Hiển thị các bài đăng có nhãn THIÊN ĐẠO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THIÊN ĐẠO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

Con người được cấu trúc như thế nào? (câu hỏi thứ 65)

27 Tháng 4 2014 lúc 0:07
(Dành cho bà con tin tưởng Điển Phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng:

Nhơn linh là do cấu trúc của ba phần: thể xác, tâm hồn và linh hồn tạo nên.

Thể xác là do các cấp độ hạt vật chất hữu hình tạo nên, từ hạt gốc ở can 9 cho đến hạt cơ bản ở can 10, từ đó tạo ra các mô, tế bào, da, xương, tủy, não, hệ thần kinh cảm giác, thần kinh vận động… gọi là đệ nhất xác thân. Đệ nhất xác thân phải ăn uống, hít thở, hoạt động trong môi trường tốt, thích hợp mới phát triển được.

Tâm hồn: ở trong thể xác, nó còn sâu thẳm và bí hiểm hơn đại não con người, bởi nó là do hạt điện Phàm Gian ở can 8 tạo nên. Hạt điện này có trường cảm giác, tri giác tương tác với xác thân giúp cho đệ nhất xác thân có cảm xúc nên được gọi là đệ nhị xác thân. Tâm hồn thì luôn giống như thể xác nên gọi gọn lại là tâm.

Tâm gồm có ngoại tâm và nội tâm. Ngoại tâm là những thế giới bên ngoài được ẩn chứa vào bên trong thể xác, đó là những quan hệ trong gia đình, xã hội, tự nhiên,.. với những vui buồn,lo toan trong cuộc sống... Ngoại tâm chi phối chủ yếu đến xác và làm chuyển biến một ít đến nội tâm, hay nó tạo điều kiện cho nội tâm phát triển tốt xấu.

Nội tâm: nếu như ngoại tâm là từ thể xác sinh ra và chi phối nhiều đến thể xác thì nội tâm ngược lại, nó được sinh ra từ chính linh hồn và bị chi phối mạnh bởi linh hồn. Nếu linh hồn gian tà hiểm ác thì nội tâm gian tà hiểm ác. Nếu hồn thiện lương thì nội tâm thiện lương… nên Điển Phật chủ yếu tu hồn là vậy.

Linh hồn: do khí điện từ dải can 4 đến dải can 7 tạo nên và nó ở trong tâm hồn (ngoại tâm). Cấu trúc cuả linh hồn nhơn linh hoàn toàn khác nhau và rất phức tạp nên cổ kim bàn luận nhiều về linh hồn mà chưa ai biết được linh hồn gồm:

78% khí điện ở dải can 7 (khí điện Cõi Phàm).
20% khí điện ở dải can 6 (khí điện Cõi Âm).
1,4% khí điện ở dải can 5 (khí điện Cõi Trời).
0,6% khí điện ở dải can 4 (khí điện Càn Khôn).

Qua đó, thấy rằng linh hồn chúng sanh rất nặng vì có tới 98% khí điện Cõi Phàm và Cõi Âm thì làm sao mà siêu thoát được! Chỉ cần chênh nhau 1 yoctô khí điện thôi thì linh hồn đã là khác nhau cơ bản rồi.


* 1 yoctô = một phần triệu tỉ tỉ

Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên là có hay không và như thế nào? (câu hỏi thứ 8)

26 Tháng 4 2014 lúc 23:45
(Dành cho bà con tin tưởng Điển Phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng: nhân sinh kim cổ truyền tụng chuyện này là có thật, nhưng cũng không đúng như bá tánh đồn đại và cũng không đúng như kinh kệ truyền tụng. Bởi số mạng là chuyện của cõi nhà Âm, của cõi nhà Trời và đều phải nhất nhất tuân theo cơ Phật định.

Việc cơ định mọi chuyện của một kiếp như tốt xấu, dữ lành… cao nhất là 61% mà thôi. Mọi chuyện còn lại đều do chính bản thân chúng sanh đó quyết định, nghĩa là còn lại 39% đó để cho chúng sanh ăn năn sám hối. Đó cũng là đức hiếu sinh của Đấng Tạo Hóa.

Vì như vậy mới có thiên cơ bất biến và thiên cơ khả biến. Bất biến hay khả biến là tùy theo nhiều trường hợp khác nhau để xem xét định cơ. Nhơn sanh không ai hiểu được cơ nên họ nói muôn việc tại trời là sai, và nhân định thắng thiên cũng là sai cả hết.

Tóm lại, chư linh, chư phật cũng chưa hiểu rõ được cơ. Phật bề trên có truyền dạy rằng:

Sinh nơi hiền dữ,
Sinh tử bệnh nạn,
Phú quý bần hàn,
Vợ chồng con cái,
Đều do Phật định cả.

Đó gọi là tiền định. Tiền định là dựa vào nhân quả nghiệp duyên của từng nhân linh để mà định trước mọi việc như: Sinh ra vào ngày tháng năm nào? Cha mẹ anh chị em là những ai? Sinh ra ở đâu, thời điểm nào?.... để phải chịu lấy hoàn cảnh kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa xã hội… của quốc gia đó, của miền đó, của gia đình đó… Từ đó phải chịu lấy những kiếp nạn chung, riêng... và cũng từ đó phải biết ăn năn sám hối.

Độ lượng và từ bi là như thế nào? (câu hỏi thứ 72)

26 Tháng 4 2014 lúc 23:40
(Dành cho bà con tin tưởng Điển Phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng: độ lượng theo nghĩa của người đời là bao dung, nghĩa là đức tính cao thượng, có tấm lòng rộng rãi, không trách cứ sự sai lầm hay thiếu sót của người khác. Theo nghĩa của kinh kệ nhân gian, từ bi bác ái nghĩa là lòng yêu thương rộng lớn bao trùm lên mọi người, mọi vật.

Với Phật bề trên, độ lượng là pháp lực xuyên suốt nhìn thấy rõ khoảng thời gian để làm chuyển hóa được sinh linh vạn loại, chư linh, chư phật. Chỉ có Phật bề trên mới có pháp lực nhìn thấu mọi sự chuyển hóa đó của chúng sanh vạn loại.

Ví dụ như với cấu trúc phân tử của từng kim loại là khác nhau nên chúng có nhiệt độ nóng chảy, tan chảy, bốc hơi, không còn tồn tại, … khác nhau. Và Phật nhìn thấu rõ nhiệt độ đó là bao nhiêu với thời gian như thế nào – hay nói cách khác là nhìn thấu và xác định rõ khoảng thời gian mà một căn hồn chuyển hóa được. Phải nhìn thấu rõ mọi sự chuyển hóa đó mới gọi là độ lượng.

Cha Phật cũng có nói: “Độ lượng sinh hại đa.” Như vậy có nghĩa là, nếu bao dung như người đời nói, hay từ bi bác ái như kinh kệ nói mà không thấu rõ căn nguyên thì chỉ sinh hại cho bá tánh, sinh linh mà thôi.

Những nơi tu hành được an lành là nơi nào? (câu hỏi thứ 16)

26 Tháng 4 2014 lúc 23:33
(Dành cho bà con tin tưởng Điển Phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng: Phàm Gian có bốn nơi tu hành được cơ Phật định là an lành:

1) Núi Tà Lơn ở tỉnh Kampôt, nước Campuchia.
2) Núi Kẻ Bàng ở tỉnh Quảng Bình, nước Việt Nam.
3) Núi Dinh ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, nước Việt Nam.
4) Núi Đá Dựng ở Hà Tiên, thuộc tỉnh Kiên Giang, nước Việt Nam.

Đạo là lý tự nhiên, vậy lý tự nhiên là gì? (câu hỏi thứ 108)

22 Tháng 4 2014 lúc 0:11
(Dành cho bà con tin tưởng Điển Phật tham ngộ)

Trước tiên, cần hiểu rõ hơn nữa nghĩa thật sự của chữ đạo là gì? Đạo thật sự là lẽ phải, là quy luật trong xã hội và trong thế giới tự nhiên của các cõi hữu hình lẫn vô hình mà ai ai cũng phải tuân theo.

Như vậy, đạo được gọi gọn lại là lý tự nhiên, là lẽ phải mà ai cũng phải công nhận. Nhưng từ cổ chí kim, không phải ai cũng dễ dàng nhận ra được đạo. Như vậy, lý tự nhiên thật sự là gì? Có thể nói gọn lại rằng: lý tự nhiên là tất cả những gì tồn tại mà không phải do con người tạo lập ra.

Theo đó mà nói, các luân thường đạo lý ở đời, các tôn giáo ở đời đều được gọi là nhơn đạo, chứ không phải là đạo, mà sinh linh ít có ai nhận ra và phân biệt được đâu là đạo thật sự, đâu là nhơn đạo.

Như vậy, mọi sinh linh phải nỗ lực tìm hiểu, khám phá những lý lẽ tự nhiên đó, tìm ra những quy luật, rút ra những định luật, định lý,… rồi ứng dụng vào cuộc sống.

Những lý lẽ tự nhiên đó gọi là Thiên đạo. Hợp với Thiên đạo tức là hợp với quy luật thì sẽ tồn tại và phát triển. Trái với Thiên đạo tứclà trái với quy luật, sẽ không tồn tại chứ đừng nói gì đến sự phát triển.

Phật bề trên dạy rằng:

                                       Sống cho phải đạo. Trái đạo Trời phạt.


Thế nào là xá lợi Phật? (câu hỏi thứ 45)

21 Tháng 4 2014 lúc 23:37
(Dành cho bà con tin tưởng Điển Phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng: nhân gian nói xá lợi là tàn cốt của đức Phật hoặc của bồ tát hoặc là tro của người chết sau khi đã hỏa táng. Kinh kệ nhân gian lại nói rằng xá lợi Phật bao gồm ba thứ: một là thân xá lợi, là tàn cốt của Phật còn để lại. Hai là tùy thân xá lợi, là những vật dụng của Phật dùng khi còn tại thế như áo quần của Phật, thiền trượng của phật, bình bát của Phật… Ba là pháp thân xá lợi, là những kinh kệ của Phật dùng để thuyết pháp.


Phật bề trên dạy rằng: “Xá lợi là tâm Phật thọ linh khí bất diệt”. Trước kia, khi Phật chúng sanh nhập Niết Bàn, có để lại xá lợi Phật cho các hàng đệ tử. Lúc đó, Phật thường dùng tam bửu bản thân kết hợp với linh khí Phật để luyện hóa tâm


Sau đó, dùng chân hỏa tam muội hóa thân thành tro bụi, chỉ còn để lại chỗ ngồi một trái tim nóng hổi, đỏ tươi, và trong suốt! Vì không phải là vật của trần gian nên Nhà Trời đã tới thu về làm vật chi bảo ở cõi Nhà Trời.


Ngày nay, xá lợi là do quan niệm của người đời đặt ra khi quá sùng tín Phật, vì ngày nay, có ai hóa thân được như vậy đâu mà gọi là xá lợi.

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Tất Cả Chỉ Là Mê.

31 Tháng 7 2013 lúc 8:54
Người mê sao cứu được người mê !?
Bởi tất cả chỉ là người trần thế
Chỉ nghe lại và thuộc làu kinh kệ
Đã muội mê sao thông tuệ đạo mầu !?
Vốn gốc đạo thật cao sâu khó biết
Do phật trời trực tiếp truyền ra
Kẻ mê chấp lại cho là điên dại
Người viện kinh lại cho ấy là tà
Lời chơn rằng trời phật ở rất xa
Chùa chiền kinh kệ chỉ là mê muội
Trái đất vạn vật sẽ đến hồi tàn lụi
Đạo nhơn linh hóa tro bụi mà thôi
Ôi thôi sãi vãi nói kệ kinh cứu thế !!!
Người mê sao cứu được người mê !?

Tại Sao Không Giảng.

25 Tháng 7 2013 lúc 12:06
Một là vì phạm nhân tâm
Hai là vì có cõi âm định phần
Ba bởi vì loạn nhơn luân
Bốn sợ cơ lộ nên tuân mệnh trời
Chúng sanh mê muội vạn đời
Làm sao khai ngộ chuyển dời căn cơ?

U MINH

16 Tháng 7 2013 lúc 11:11
Phàm ai biết kệ kinh sai?
Phật Tiên mấy bậc có ai tỏ tường!
U minh mấy cõi vô thường
Cổ kim ai hiểu con đường vãng sanh
          

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Không Tên

24 Tháng 7 2013 lúc 15:45
TA muốn hỏi người tu chơn thật
CÓ bao giờ thấy phật hay chưa?
BA hoa tụng niệm giảng bừa!
CHÚT ít kinh kệ dễ lừa chúng sanh!
NGƯỜI theo phật phải luôn chơn chánh
HÀNH kệ kinh phải tránh chấp mê
CƠ trời định hạ gần kề
PHẬT tiên lần lượt quy về Cấm Sơn.

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

Khai Lộ

29 Tháng 7 2013 lúc 16:19
Cung kính chi bằng kiến phật thi
Thỉnh cầu thiên đạo lẽ vô vi
Ba ngôi trời phật luôn tôn kính
Chút thân lai hạ có sá chi
phật hiện tức thì điển chiếu
Phật định cơ độ dẫn Linh Kiều
Định quả vị tôn ti nghiêm khắc
Phần ai nấy giữ ắt an lành.

Người phàm gian có giao tiếp được với cõi âm hay không? (câu hỏi thứ 43)

20 Tháng 9 2013 lúc 22:48
(Dành cho bà con tin tưởng điển phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng: Việc giao tiếp được với âm hồn khác với việc giao tiếp được người cõi âm và khác xa với việc giao tiếp được với cõi nhà âm. Vìsống trong mông muội nên bá tánh nhơn linh thường hay nhầm lẫn.

Giao tiếp với âm hồn: nghĩa là người còn đang sống giao tiếp được với những vong linh người chết, bởi chơn linh người chết không được siêu thoát hoặc chưa hết vận hạn trần gian nên còn lang thang vất vưởng ở nơi trần thế… những vong linh như vậy có rất nhiều.

Vì không ai ngó ngàng đến, đời sống không có gì bảo đảm, không có nơi ở ổn định… cứ mãi lang thang đây đó, nên thường lấy gốc cây, bụi cỏ, hốc đá, nhà hoang… làm nơi cư trú qua ngày, còn hơn là phải đi lang thang nay đây mai đó, dễ bị âm hồn khác hoặc quái linh bắt nạt, ức hiếp, đánh đập, khổ hơn nữa là bị bắt đi ở mọi, nếu may mắn hơn, hồn được cho vào chùa chiền am miếu làm nơi nương tựa.

Những âm hồn này muốn có nơi cư trú, muốn được hưởng nhang khói thờ cúng của người thân hay của bá tánh cho đỡ phần cô quạnh! Có những hồn còn nhập vào người sống với nhiều lý do khác nhau, có hồn thật thà, có hồn dối trá gian ác, có hồn ba hoa…vv….

Giao tiếp với người cõi nhà âm: là người còn đang sống giao tiếp được với người ở cõi nhà âm. Xưa người phàm có giao tiếp với người cõi âm, nay thì không giao tiếp được. Người ở cõi nhà âm (khác với quái linh ở cõi nhà âm) cũng là người phàm gian đã chết nhưng có đức độ nên được định cơ cho sống ở cõi nhà âm. Người cõi âm có thể là những người thân, người quen của ta hoặc là những người hoàn toàn xa lạ.

Những hồn này khi được cõi nhà âm cho phép mới có thể trở về cõi dương gian gặp người thân, người quen cho đỡ lòng mong nhớ hoặc trả ơn nghĩa trong thời gian ngắn.

Giao tiếp với cõi âm (giao tiếp với những vị chức sắc cõi nhà âm): xưa nay chưa có người phàm nào giao tiếp được với các vị chức sắc cõi âm. Ngoài từ “cõi âm” còn có nhiều tên gọi khác như Âm Phủ, Âm Ti, U Phủ, Phu Lị, Công Pháp, Hậu La Pháp, là nơi ít có người nào đến được chứ đừng nói đến việc giao tiếp, nên trần gian làm sao biết được âm giới. Bá tánh chỉ thêu dệt chuyện để hù dọa nhân gian, chỉ có người chết đến lúc hết vận hạn trần gian, được nhập vào U Phủ, khi đó mới thật sự biết cõi âm là như thế nào.

Mọi chuyện đầu thai, chuyển thế đều phải xuất phát từ cõi nhà âm, nhưng hồn nào cũng phải ăn chu lu (để quên chuyện tiền kiếp) trước khi vượt cung Lâm Bồn, vì vậy có mấy ai biết được công việc ở nhà âm?

Xưa nay, chỉ có một vài người đến được cõi âm do tu luyện đạo hạnh cao, do bẩm sinh di truyền của tổ tiên nên có khả năng đặc biệt, hoặc do trải qua bệnh tật, tai nạn thập tử nhất sinh nên phát sinh kỳ duyên thoát thai hoán cốt, hoặc do được cõi vô hình chỉ dạy… Đến được cõi âm ở đây nghĩa là chỉ đến được tối đa là tầng 4 – trong khi cõi âm có 13 tầng.

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Thế nào là sinh linh? Thế nào là chúng sanh? (câu hỏi thứ 12)

12 tháng 9 2013 lúc 21:18
(Dành cho bà con tin tưởng điển phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng: sinh linh là từ linh khí phật tạo thành sự sống nên mới gọi là sinh linh, được chia thành 2 bậc: sinh linh bậc thấp (chúng sanh vạn loài) và sinh linh bậc cao (quái linh, chư linh, và chư phật).

Na La Phật Mẫu có dạy: “Muôn loài chỉ một chúng sanh”. Hay nói rõ hơn: “Muôn vật có sự sống đều là chúng sanh”.

Như vậy, từ rêu tảo, thảo mộc, vi tinh, côn trùng, cầm thú đến nhơn linh đều là chúng sanh, kể cả nửa thực vật nửa động vật (ví dụ như san hô) cũng là chúng sanh.

Đấng Tạo Hóa dạy: Chúng sanh vạn loài được chia làm ba loại:

- Loại có tri giác và có ý thức: đó là lớp nhân linh, lớp này có cấu trúc gồm ba phần là thể xác, tâm hồn và linh hồn.

- Loại có tri giác nhưng không có ý thức: là lớp rêu tảo, thảo mộc, nửa thực vật, nửa động vật, vi tinh, côn trùng, cầm thú. Lớp này chỉ có hai phần là thể xác và linh hồn.

- Loại vô tri vô giác: được chia làm 2 loại

- Loại thức nhất là gỗ, đất, đá, cát, nước, không khí,… loại này do các hạt cơ bản cấu trúc tạo nên do quá trình linh khí hóa vất chất, vì vậy mà chỉ có thể xác, khối lượng mà không có tâm hồn cũng không có linh hồn. Loại thứ nhất này chiếm số lượng rất nhiều.

- Loại thứ hai cũng là gỗ, đá,.. giống như loại thứ nhất, cũng do các hạt cơ bản cấu trúc tạo nên (có thể xác, khối lượng) nhưng có cả linh hồn. Loại thứ hai này chiếm số lượng rất ít so với loại thứ nhất nhưng không phải là không đáng kể.

Loại thức hai cũng được gọi là chúng sanh vạn loài. Mặc dù đây là những vật vô tri vô giác nhưng bên trong đó có sự sống vô hình âm ỉ. Trong số đó là những vị trong chư linh, chư phật bị phạt biến thành gỗ, đá … Đây là hình phạt rất nặng (chỉ sau mức nặng nhất là chết) vì phải chuyển từ đá lên rêu tảo, rồi mới tiến lên thảo mộc, ... còn không thì phải chịu như vậy hoài hoài, gần như là vĩnh viễn (vì từ đá để chuyển lên rêu tảo thì rất rất lâu..).

Lai hạ nặng nhất là từ rêu tảo. Thành vật vô tri vô giác không gọi là lại hạ mà là bị hình phạt nặng. Do quá hỗn láo, do có trí huệ mà lại như không có - không biết gì (như mất trí vậy),gần giống loài man-di. Cõi phật không có loài man-di là vì vậy.

Đây là một điều mà người tu điển phật cần lưu ý kỹ, đừng bao giờ để phạm tội với bề trên.


Tại sao trên đời có những người không có vợ có chồng hoặc có vợ có chồng mà không có con? (câu hỏi thứ 85)

10 tháng 9 2013 lúc 23:29
(Dành cho bà con tin tưởng điển phật tham ngộ)

Phật dạy rằng: người không có vợ có chồng là do kiếp trước phá gia can hoặc can thiệp vào chuyện gia đình người khác, chia cắt tình yêu chơn tình nam nữ, chỉ một lần trong một kiếp như vậy thôi phải chịu liên tiếp chín kiếp cô độc.

Người không có con cái là người ở tiền kiếp đối xử tệ bạc với con của mình hoặc bắt con cái làm việc quá sức, không biết thương yêu trẻ con hoặc buôn bán trẻ con. Chỉ một lần trong một kiếp như vậy thôi, phải chịu liên tiếp chín kiếp không con.

Nhưng không phải ai không có vợ có chồng hoặc không có con cái cũng đều là người như vậy cả, cũng có những người có căn kiếp tu hành bị như vậy để dễ thành chánh quả. Vậy nên đạo trời vô biên, vô cùng mầu nhiệm, người đời không thể nào thấu hiểu.

Những trường hợp không có vợ, có chồng hoặc không có con cái hoặc tứ cố vô thân đều phải nên lạy trời phật thật lòng xin ăn năn sám hối tội lỗi tiền kiếp, có thể sẽ được ân giảm tội nghiệp do tiền kiếp đã gây ra. 


Là người tu mà có vợ có chồng là đúng hay sai? Cõi tiên phật có như vậy không? (câu 41)

12 tháng 9 2013 lúc 23:02
(Dành cho bà con tin tưởng điển phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng:

- Trong thế giới nhơn linh, chuyện vợ chồng là để duy trì nòi giống, duy trì sự tồn tại của con người. Bởi con người là sinh linh bậc thấp nên còn chìm đắm trong thất tình lục dục, trong lợi danh sắc tướng, do đó chuyện có vợ có chồng là hợp với lẽ tự nhiên, không thể gọi là đúng hay sai được.

Vậy nhưng, để trở thành bậc cao thượng hơn, người tu cần phải đoạn tuyệt với thất tình lục dục, vì quan hệ vợ chồng là một trong các mối quan hệ làm lu mờ trí huệ nhân gian, nó dẫn đến cửa mê, nên người tu cần hạn chế và loại bỏ.

- Ở thế giới chư linh, chuyện tình yêu và chuyện quan hệ vợ chồng cũng rất là inh ỏi... bởi trên con đường tu hành hoàn mỹ, tuy nhẹ hơn nhiều so với chúng sanh, nhưng chư linh vẫn còn có thất tình lục dục, và nó làm suy giảm đạo hạnh chư linh không ít... Xưa nay, chuyện tình cảm ở cõi này đã xảy ra hơn 30%.

Một điều cơ bản hơn là Giáo Cấm chỉ áp dụng cho cõi Phật nên không cấm chư linh (cõi Trời) yêu nhau hay quan hệ vợ chồng, vì vậy chuyện tình cảm ở hạ giới (cõi Phàm) cũng không là ngoại lệ.

- Trong thế giới của phật vũ trụ, xưa kia (trước khi có Giáo Cấm) đã có chuyện quan hệ tình cảm nam nữ, nên mới có chuyện 2401 cặp vợ chồng phật ở trong vũ trụ: ở miền Lan Hoa Pháp có 2400 cặp vợ chồng và vợ chồng ông Cao Pháp Cổ Đầu Vương Đế Công Long Pháp với Cổ Cổ Cao Đầu Vương Đế Hoa Long Pháp, và đã được Đấng Tạo Hóa ban sắc chỉ tác hợp.

Còn xa xưa hơn nữa, đầu tiên trong cõi phật đã xảy ra chuyện quan hệ tình cảm một chồng sáu mươi sáu vợ. Nhưng đó là chuyện cổ xưa nhất của trời phật trước kia, trước khi xã hội phật có Giáo Cấm.... và đã được Đấng Tạo Hóa ban sắc chỉ tác hợp.

Còn ngày nay, cho dù vô luận thế nào, thì đó cũng là chuyện nghiêm cấm hàng đầu trong cõi phật. Đây cũng là một trong các điều của Giáo Cấm.

Tại sao điển phật không lập ra đạo thiên điển để cứu nhân độ thế? (câu hỏi thứ 80)

10 tháng 9 2013 lúc 22:47
(Dành cho bà con tin tưởng điển phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng: Tất cả các đạo xưa nay do chúng sanh lập ra gọi là tôn giáo hay còn gọi là nhơn đạo. Nhơn đạo dạy điều hay lẽ phải, dạy làm lành lánh dữ, tu nhân tích đức đó là điều tốt đẹp cho nhân gian.

Tôn giáo đặt ra nhiều nghi thức, nghi lễ, giáo lý dạy đời, lập ra nhiều nhà thờ, chùa chiền am miếu để quy tụ bá tánh, mà không biết được căn cơ mỗi chúng sanh mỗi khác nên trái với thiên lý là đạo của tự nhiên.  

Bởi tất cả chỉ là người trần mắt thịt thì làm sao có thể nhìn thấy được huyền cơ trời phật? Tất cả chỉ là nghe lại từ người khác nói, chỉ biết được những điều trong kinh kệ từ người khác viết lại chứ có ai giao tiếp tiên phật và được tiên phật chỉ dạy trực tiếp mà biết được đúng sai, tiên phật thật sự thế nào?

Tất cả chỉ là ham vui, cầu danh lợi bản thân hoặc tu cho có chứ có mấy ai thực lòng cầu đạo? Vì vậy, phật bề trên có dạy rằng: Tôn giáo chỉ là chỗ dựa tinh thần cho bá tánh chứ không phải là cứu cánh giải thoát cho nhơn sanh.

Điển phật là khoa học bậc cao, hoàn toàn dựa vào lý lẽ của tự nhiên, mọi phép biến hóa cũng là khoa học bậc cao. Vì vậy, người mê muội không thể nào học được điển phật bởi mê thì làm sao phân biệt được đúng sai, phải trái, chỉ học trong kinh kệ và thuộc làu kinh kệ chứ không thể thông tuệ được lý lẽ tự nhiên.

Điển phật không tổ chức lập ra đạo thiên điển bởi theo lẽ tự nhiên, mỗi bá tánh có một căn cơ khác nhau nên mức độ giác ngộ của bá tánh cũng khác nhau, phải tùy theo căn cơ đó mà truyền khai điển phật.

Vì lẽ đó, phật bề trên có dạy rằng: “Không có căn, điển trời dù gần mấy cũng xa, có hội ngộ cũng chỉ là vô vọng.” 

Vì sao điển phật xuất hiện ở thế gian? (câu hỏi thứ 69)

10 tháng 9 2013 lúc 21:14
(Dành cho bà con tin tưởng điển phật tham ngộ)

Phật bề trên dạy rằng: Từ buổi sơ khai cho đến nay, điển đã nhiều lần xuất hiện ở nhân gian, đó là quái điển, chư linh điển và điển phật chúng sanh. Tuy nhiên, điển xuất hiện những giai đoạn trước đây chỉ là để giáng cơ hạ bút dạy đạo tu hành (nhơn đạo), làm lành lánh dữ.

Điển xuất hiện trước đây để dạy bảo cho nhơn sanh biết là có thế giới tiên phật và có cuộc sàng lọc nghiêm minh khắc nghiệt sắp tới, để bá tánh theo đó mà giác ngộ tu hành, giảm bớt lòng bon chen, gian tham, ích kỷ,… giảm bớt ác nghiệp trở thành thiện lương, chơn chánh….

Giai đoạn này không có giảng thiên đạo và cũng không truyền khai hạnh phật cho nhơn sanh, bởi trước đây, chúng sanh đắc quả tiên phật rồi mới có điển. Còn ngày nay, truyền khai điển trước rồi mới đắc quả sau.

Từ năm 1984 đến nay, điển phật bề trên giáng cơ hạ bút giảng dạy thiên đạo và truyền khai hạnh phật cho nhơn sanh nên gọi là điển phật xuất thế gian, bởi nhơn sanh vạn loại sẽ bị một kiếp nạn rất lớn là sắp sửa bị diệt vong.

Vì vậy, thiên điển giáng phàm để truyền dạy Đạo Chính Lậm (Đạo Vô Tên) và truyền khai hạnh phật cho chúng sanh vạn loại, đây là cơ hội lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng của bá tánh, thể hiện đức hiếu sinh của Đấng Tạo Hóa, nhằm:

1)     Cứu độ cho những ai có căn cơ chư linh, chư phật lai hạ.
2)     Cứu độ cho những ai có căn cơ tu hành nhiều kiếp mà chưa đắc quả.
3)     Cứu độ cho những ai có lòng tôn kính tin tưởng trời phật mà không mê muội.
4)     Cứu độ những ai có nhiều công đức (không phải công đức như bá tánh tưởng nghĩ.).
5)     Cứu độ những ai có tâm hiền lành chơn chánh.
6)     Cứu độ cho người không chấp mê và người phá chấp.
7)     Cứu độ cho người chân thành cầu đạo.
8)     Cứu độ cho người có cơ duyên giác ngộ quay đầu.
9)     Cứu độ cho người được ơn trên ban ơn huệ.

Vì vậy, đây là lần đâu tiên cũng là lần duy nhất cuối cùng phật giảng Đạo Chính Lậm và truyền hạnh phật xuống nhân gian. Bất kỳ ai trong thời kỳ này, không phân biệt người, phật, vật, ma… đều có thể học được Đạo Chính Lậm và hạnh phật bề trên để chuyển hóa hồn (định hồn) thành phật (phải giác ngộ) ngay trong xác phàm.

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Thiên cơ là gì? Tại sao thiên cơ bất khả lộ? Thiên cơ bất biến hay khả biến? (câu 102)

9 tháng 9 2013 lúc 22:26
(Dành cho bà con tin tưởng điển phật tham ngộ)

Nói đến thiên cơ thì phải nói đến ba cơ lớn trong thế giới Trời Phật là: Cơ Cha, cơ Cha Phật và cơ Phật.

Cơ Cha: là cơ do Đấng Tạo Hóa trực tiếp định, nghĩa là chỉ có phật bề trên nào có cơ liên hệ trực tiếp đến Đấng Tạo Hóa như Đấng Phật Cơ hay Đấng Nối Chí, đều phải do Cha trực tiếp xử định. Xưa lắm trong cõi phật, chúng sanh vạn loại cho đến chư phật đều do Cha chưởng quản. Ngày nay, cơ Cha do Phật Cơ chưởng quản.

Cơ Cha Phật: là cơ do các vị cổ phật trong càn khôn, vũ trụ định, nghĩa là các cõi các giới nào có cơ liên hệ với Cổ Phật thì đều do Cổ Phật nhiều tầng nhiều nơi chưởng quản.Ví dụ như trong Càn Khôn thì có 5 vị Cổ Phật coi. Trong mỗi vũ trụ (có 60 vũ trụ ) thì có 6 ông Đạo Pháp coi. Các vòng ngoài vũ trụ, Vô La, Ca La, Đại La trở lên đều có 10 ngôi vị phật quả coi cả. Trong toàn vũ trụ thì có bốn ông Đạo Pháp hay gọi là bốn ông vương đế coi.

Cơ Phật: là cơ do sáu ông vua phật hay còn gọi làsáu ông vua cha (ông cổ, ông hổ, ông hồ, ông cổ cổ, phật hay gọi là lão, ông) coi chung cả hết. Sáu ông này do phật giáo chủ sắc phong, phật giáo chủ là phật sáng lập ra chư linh mà còn là vị phật sáng lập ra mahacala… từ đó chỉ xuống cõi thiên định và cõi âm định.

Trong mỗi một thiên cơ (cơ Cha, cơ Cha Phật, cơ Phật) đều bao hàm 3 cơ là: cơ nguyên, cơ duyên và cơ sinh.

Cơ nguyên là cơ định ban đầu (dựa vào nhân quả nghiệp duyên) như tốt-xấu, lành-dữ… đều là 61%, ai cũng như vậy nên gọi là thiên cơ bất biến, thể hiện sự nghiêm minh, công bằng và lẽ phải và cũng là thể hiện đức hiếu sinh của đấng bề trên.

 Cơ Duyên: còn gọi là cơ liên hệ và đây chính là nguyên lý vận hành và phát triển của cơ, bởi sinh linh vạn loại cho đến phật, ai cũng có cơ liên hệ cả. Cơ duyên để chứng ngộ và làm phát sinh thêm cơ thứ ba đó là cơ sinh.

Cơ Sinh: là từ định cơ ban đầu, rồi dựa vào cơ liên hệ để sinh ra cơ sinh nên còn gọi là cơ phát triển. Cơ này chiếm 39% tốt xấu, lành dữ do chính mình tạo nên và làm thay đổi cơ nguyên ban đầu tăng hay giảm, nên gọi là thiên cơ khả biến. Có 2 trường hợp như sau:

Cơ sinh đồng biến với cơ nguyên: nghĩa là nếu cơ ban đầu bị định là 61% lành dữ, tốt xấu. Do bản thân biết hay không biết tu dưỡng, biết hay không biết ăn năn sám hối… nên sẽ làm thay đổi cơ nguyên (cơ định tùy tâm, cơ biến tùy tâm). Nếu cùng xấu thì càng xấu, nếu cùng tốt thì càng tốt hơn, khi đó cơ nguyên ban đầu tăng lên (vượt 61%), gọi là thiên cơ khả biến.

Cơ sinh nghịch biến với cơ nguyên: nghĩa là cơ ban đầu định 61% lành dữ, tốt xấu. Cũng do bản thân biết hay không biết tu dưỡng, ăn năn sám hối, nên sẽ làm thay đổi cơ nguyên (cơ định tùy tâm, cơ biến tùy tâm). Nếu cơ nguyên xấu mà cơ sinh tốt hay cơ sinh xấu mà cơ nguyên tốt cũng đều làm giảm cơ nguyên ban đầu nên cũng gọi là thiên cơ khả biến.

Vì vậy mà tiên phật gọi là thiên cơ bất khả lộ, nghĩa là không thể nói ra được vì có bất biến và có khả biến, lộ ra thì khả biến, giữ nguyên thì bất biến. Mà cho dù có lộ ra thì cũng bất khả tri, nghĩa là không thể biết rõ được, không thể  hiểu được. Có hiểu có biết được thì cũng bất khả thi, nghĩa là không thể làm theo được, không thể chống lại được.

Và hơn thế nữa, nếu lộ cơ trời sẽ bị tội lớn với trời phật, nhẹ thì bị tổn thọ hay gọi là giảm thọ (mức 1), nặng hơn thì yểu mạng, đoản mạng, chết bất đắc kỳ tử (mức 2). Nặng hơn nữa thì nạn kiếp trùng lai - lặp lại liên tiếp nhiều kiếp (mức 3). Nặng nhất là bị lai hạ và không thể tu thành tiên phật (mức 4).

* Thiên cơ khả biến tùy căn, bất biến tùy căn: căn ở đây là căn gốc. Tùy theo căn gốc thuộc cơ nào chưởng quản thì bất biến hay khả biến.

* Cơ định tùy tâm, cơ biến tùy tâm: định ở đây nghĩa là ấn định, quyết định; định có nghĩa là căn cứ vào tâm để định (tâm lành hay dữ, tâm có sám hối hay không sám hối. Nếu tâm thay đổi theo chiều tốt thì cơ định sẽ tốt và ngược lại, hoặc tâm cố chấp, không thay đổi thì cơ sẽ giữ nguyên ban đầu); định còn có nghĩa là xui định và khiến định. Xui định và khiến định là để người bị định cơ hành theo cơ. Cho nên không ai có thể chống lại được cơ, không ai có thể bẻ nạn chống trời là như vậy.
* Không biết cơ đừng luận đến cơ. Vì ai không nắm cơ, không biết cơ mà luận về cơ thì bị tội tương đồng với tội làm lộ cơ. Cho nên đó là lý do vì sao mà “thiên cơ bất khả lộ”.

Thể xác, tâm hồn và linh hồn từ đâu sinh ra? (câu hỏi thứ 13)

10 tháng 9 2013 lúc 21:39
(Dành cho bà con tin tưởng điển phật tham ngộ)

Phật bề trên truyền dạy rằng thể xác là cái tạm bợ để sinh ra tâm hồn nên tâm hồn ở trong thể xác mà linh hồn lại ở trong tâm hồn. Linh hồn sinh ra nội tâm, còn thể xác lại sinh ra ngoại tâm nên ngoại tâm là đệ nhị xác thân của linh hồn.

Ngoại tâm do thể xác sinh ra nên tâm hồn (ngoại tâm) cũng giống như thể xác và chi phối thể xác, còn nội tâm chỉ bị tác động nhẹ từ ngoại tâm nhưng bị chi phối mạnh bởi linh hồn.

Thân xác gọi là đệ nhất xác thân chỉ là tạm bợ vì chủ yếu là do oxy và hydro tạo thành nước, nước chiếm 75% cơ thể, còn lại là 18% đến 20% là carbon,3% đến 4% là ni tơ, 2% là calxi và còn một số ít chất khác…

Vì như vậy nên bá tánh chỉ nhịn thở được hơn 3 phút là chết, nhịn khát hơn 7 ngày cũng chết, nhịn ăn hơn 14 ngày cũng không sống được. Cơ thể có khoảng 800 mô và cứ một gam cơ thể có một tỉ tế bào, nên một người nặng 70kg là có 70.000 tỉ tế bào….

Khi xác chết đi thì hóa thành không khí, đất và nước, cuối cùng cũng chỉ là hạt bụi trần gian. Tâm hồn (ngoại tâm) cũng phân rã sau 49 ngày thành sóng mang ý niệm, chỉ có các bậc chân tu đắc quả mới bắt được sóng mang ý niệm này nên biết được nhiều chuyện của xác ở trên dương thế, bởi tâm hồn (ngoại tâm) là hạt điện ở dải can 8 – cõi Phàm tạo thành.

Khi tâm hồn bị phân rã thì sau đó linh hồn sẽ thoát ra ngoài và phải chịu theo cơ định. Linh hồn do bốn tầng khí điện tạo nên là khí điện ở dải can 4 – cõi Phật Càn Khôn (0,6%), khí điện ở dải can 5 – cõi Trời (1,4%), khí điện ở dải can 6 – cõi Âm (20%) và khí điện ở dải can 7 – cõi Phàm (78%) tạo nên.

Như vậy, linh hồn rất nặng vì có tới 98% khí điện cõi âm và khí điện cõi phàm, do đó, linh hồn cần phải tu luyện - thanh lọc nhẹ nhàng để được chuyển hóa lên cao hơn.