Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên mục : ĐẠO PHẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên mục : ĐẠO PHẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Khi tôn giáo bị mắc bệnh béo phì

Trong xã hội có cuộc sống sung túc, con người hưởng thụ không biết dè chừng, đưa đến béo phì, tiềm ẩn nhiều nguy cơ bệnh hoạn. Bố mẹ cưng chiều con bằng những dinh dưỡng không cân nhắc, cũng biến con thành trẻ béo phì. Ngành nghề nào cũng thế, béo phì là trạng thái lạm phát không cân xứng, dẫn đến nhiều nguy cơ bất cập cho tự thể. Trong lãnh vực tôn giáo, lịch sử thế giới cho thấy những tôn giáo được chế độ trọng dụng, lạm dụng, biến tôn giáo trở thành sức mạnh hậu thuẩn chế độ như thời Constantine, Ki-tô giáo lúc bấy giờ trở thành quốc giáo, đồng thời là đại nạn cho chính bản thân của tôn giáo nầy. Ngày nay, Miến Điện xem Phật giáo là quốc giáo, các sư lạm quyền quá đà gây tang thương cho những người không cùng tín ngưỡng. Hồi giáo cực đoan cũng vậy, gieo bao chết chóc cho nhân loại vì vị thế của họ được luật pháp sở tại chăm bón một cách tuyệt đãi, và tổ chức của họ tự nhận mình "thế thiên hành đạo" để sẽ nhận phần thưởng cao quý ở Thiên đường khi đồng loại là đối tượng cần triệt tiêu!
Việt Nam, Đạo Phật  một thời từng là quốc giáo, nhưng rất may, các vua chúa đều là những cư sĩ chân tu, không sử dụng Phật giáo làm lực lượng hậu thuẩn chế độ, nhưng chế độ ưu đãi Phật giáo không quá mức đến độ tín đồ Khổng Lão đương thời phải ghen tỵ. Chư Tăng bấy giờ có khuynh hướng giải thoát hơn là bành trướng thế lực, đó là điều kiện Phật giáo không đi quá đà trong xã hội bấy giờ. Cái tinh túy  của Phật giáo trong kỷ nguyên Lý Trần Lê được phổ biến và thâm nhập sâu rộng trong đời sống quần chúng và vua quan, chính vì thế, vừa chất vừa lượng song hành cân đối; Chùa chiền phát triển, đạo chúng huân nghiêm, hành giả đắc pháp  làm nơi nương tựa cho quần chúng và mẫu mực cho xã hội, do vậy, trên bốn thế kỷ, đất nước thái bình, nhân dân an cư lạc nghiệp, ngoại xâm không dám dòm ngó.
Những thế kỷ cận đại, đất nước chìm trong binh biến, thời gian dài vắng bóng  hành giả thành tựu; khi văn minh Tây phương tràn ngập vào xã hội, thế hệ trẻ tiếp thu thiếu chọn lọc, thế hệ cha anh còn ngỡ ngàng trước văn hóa xa lạ của cổ nhân, mọi sinh hoạt bị đảo lộn, các Tăng sĩ lúc bấy giờ bị đẩy vào bóng tối, hòa nhập với quần chúng bằng ma chay đám tiệc; văn tự Hán Nôm khó cạnh tranh với chữ La tinh, do đó Phật giáo bị đình đốn trong việc truyền bá. Gần một thế kỷ sau, mới xuất hiện một số cư sĩ trí thức và một ít Tăng sĩ thích nghi với văn hóa mới để trang bị  và cập nhật kiếh thức thời đại, cuối thế kỷ XIX, Phật giáo VN cùng với Phật Giáo thế giới vươn mình đứng dậy. Tuy nhiên, Phật Giáo Việt Nam cũng chưa đủ năng lực tự mình vươn lên để chấn hưng nội lực giữa khói lửa quê nhà. Lúc nầy Tăng trẻ bận tâm việc trang bị kiến thức thế học; đời sống Thiền môn quy củ, sinh hoạt tông môn dần dà bị pha loãng. Với kiến thức cập nhật như thế dễ dàng cho việc hoằng pháp, nhưng nội lực hành trì đã bỏ trống.
Những năm gần đây, Phật giáo trong nước được nhiều thuận lợi, đã phát triển ồ ạt về cơ sở vật chất, về từ thiện xã hội lẫn về số lượng tu sĩ. Phần lớn cơ sở vật chất có khuynh hướng làm kinh tế dưới danh nghĩa "du lịch  tâm linh" (tâm linh làm sao mà du lịch được, mà đã là du lịch thì không có sự chuyên tu nơi đó). Mỗi cơ sở  tiêu tốn hàng chục tỷ đồng trong khi người dân nghèo đói bệnh tật tràn lan. Tu sĩ lạm phát từ chính thống đến phi chính thống (phi chính thống là các sư giả); Về từ thiện do một số bậc chân tu thực hiện, số còn lại mượn danh để kinh doanh...
Nhìn chung, về hình thức, Phật giáo phát triển nhiều mặt. Nhưng, Phật giáo không phải là một tổ chức thế tục cần số lượng khi mà chất lượng là mạch sống cốt lõi của tâm linh, vì thế, chú trọng quá nhiều về hình thức thì phần tâm linh bị hụt hẩng; đây là dạng béo phì thiếu cân xứng giữa chấtlượng đối với Phật giáo hiện nay. Hậu quả của béo phì ai cũng biết, nó phá nội tạng, suy tổn mạch sống, biến chứng đủ loại, vì thế, không lạ khi thấy một số chức sắc Phật giáo thể hiện quyền lực như một thế lực đối với các tu sĩ, điều hành Phật sự vượt cả quyền hạn mà "nội quy Tăng sự, Hiến chương GHPGVN cũng như Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo" quy định. Điều nầy, chư tôn giáo phẩm Trung ương đều biết, nhưng không biết phải điều chỉnh thế nào khi mà vẫn còn trọng dụng một số cán bộ hành chánh thiếu nhân cách, một số tu sĩ các am tự viện thiếu chuyên tu hướng về nội lực mà chỉ hướng về vật chất bên ngoài để có một cơ sở, một ngôi chùa tương xứng làm nơi du lịch cho khách tham quan hơn là một tu viện đào tạo hành giả tâm linh thực thụ.
Phật giáo Việt Nam thạnh hay suy, xin nhường lại nhận xét của mọi người, nhất là cộng đồng Phật tử hiện nay đang hướng về Tam Bảo.
Minh Mẫn (16/5/2013)

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

5 bằng chứng gây sốc về kiếp luân hồi

Thế giới tâm linh luôn ẩn chứa vô vàn điều kỳ bí mà khoa học chưa chứng minh được, trong đó có kiếp luân hồi.


Swarnlata Mishra

Nói đến bằng chứng về kiếp luân hồi, trường hợp nổi tiếng nhất là của một cô gái có tên Swarniata Mishra . Cô được sinh ra trong một gia đình có học và giàu có ở Ấn Độ . Vào năm 1948, hiện tượng luân hồi của cô được mọi người chú ý khi cô mới 3 tuổi. Trong một chuyến du lịch cùng cha của mình, khi đi qua thị trấn Katni cách xa nhà cô hơn 100 km, Swarniata Mishra bỗng yêu cầu người lái xe rẽ xuống con đường để về ngôi nhà trước kia cô từng ở.

Theo đó, cô nói rằng ở đó họ sẽ được uống trà ngon hơn là uống trà ở trên xe. Trước đó, nhận thấy những biểu hiện lạ của con gái, người cha quyết định đi theo lời chỉ đường của cô. Khi đến nơi, ông rất bất ngờ, sửng sốt bởi những lời Swarniata Mishra nói từ trước đều là sự thực. Thậm chí, cô bé còn đọc vanh vách toàn bộ người thân của mình từ kiếp trước, mặc dù chưa ai kịp giới thiệu tên tuổi.

5 bằng chứng gây sốc về kiếp luân hồi, Phi thường - kỳ quặc, kiep luan hoi, Chuyen la, chuyện lạ, chuyenla, chuyen la co that, chuyen la kho tin

Swarniata Mishra

Chàng trai Taranjit Singh, 6 tuổi

Nối tiếp trong những trường hợp đáng ngạc nhiên về kiếp luân hồi là câu chuyện về cậu bé 6 tuổi tên là Taranjit Singh, đến từ làng Alluna Miana, Ấn Độ. Cậu bé này khẳng định rằng mình đã từng là một cậu bé tên Satnam Singh. Qua lời kể của cậu bé, mọi người biết rằng Satnam Singh từng sinh sống ở làng Chakkchela và bị giết trên đường về nhà bằng xe đạp. Không những thế, cậu bé 6 tuổi còn nói được tên của bố mẹ và người thân từ kiếp trước của mình. Những câu chuyện được Taranjit gây tò mò cho nhiều người và họ quyết định đi kiểm chứng. Điều ngạc nhiên nhất là mọi chuyện Taranjit đều đúng 100%.

Maha Ram

Đây là một trường hợp thú vị khác về hiện tượng luân hồi. Một cậu bé Ấn Độ đã kể lại hoàn toàn chính xác về những kỉ niệm cuộc sống của một người đàn ông tên Maha Ram,. Người đàn ông này đã bị sát hại bởi một khẩu súng săn ở cự li gần. Điều kì lạ của câu chuyện này là cậu bé cũng có vết bớt ở ngực, giống như là một vết sẹo khi trúng đạn.

Câu chuyện sau đó đã được xác minh và làm rõ. Quả thực là có một người đàn ông tên Maha Ram, đã bị sát hại bởi một khẩu súng săn và bị trúng đạn ở ngực. Thậm chí, mọi người còn so sánh vết sẹo trên ngực của người đàn ông này thông qua khám nghiệm tử thi, và giật mình nhận ra những mối liên hệ với vết bớt của cậu bé Maha Ram.

5 bằng chứng gây sốc về kiếp luân hồi, Phi thường - kỳ quặc, kiep luan hoi, Chuyen la, chuyện lạ, chuyenla, chuyen la co that, chuyen la kho tin

Những trường hợp đáng ngạc nhiên về kiếp luân hồi vẫn luôn khiến chúng ta giật mình

Một người đàn ông ở Thái Lan

Một người đàn ông đến từ Thái Lan khẳng định ông còn nhớ gần như rất rõ kỷ niệm từ kiếp trước của mình. Dựa trên những lời kể, nhiều người cho rằng người đàn ông này chính là kiếp sau của chính người chú. Vết dao đâm nghiêm trọng lấy mất tính mạng người chú cũng hiện hữu trên cơ thể của người đàn ông này. Khi so sánh, vết đâm trong quá khứ và vết bớt của người đàn ông này trùng hợp cả về vị trí lẫn hình dáng.

Cô gái Uttara Huddar ở Ấn Độ

Một sự việc về kiếp luân hồi nữa cũng đã xảy ra ở Ấn Độ. Câu chuyện này là của một cô gái tên là Uttara Huddar . Uttara Huddar đã có những nhận thức về cuộc sống của một cô gái tên Sharada lúc 30 tuổi. Chính việc nhận thức này đã ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc sống hiện tại của Uttara. Đôi lúc, cô nói một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với những người xung quanh. Đó là tiếng Bangka - một loại tiếng hoàn toàn xa lạ với Uttara trước kia. Không chỉ thế, Uttara Huddar còn cư xử với nhân cách một cô gái 30 tuổi đã lập gia đình. Còn trên thực tế, Uttara chưa có chồng.

Anh Tú

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

Thần chú linh nghiệm hàng phục rắn độc, "rắn thần"

Đức Phật khẳng định: “Nếu các ông tu tập từ tâm đối với bốn loại gia đình vua rắn này, các con rắn sẽ không cắn các ông, do vậy, bắt đầu từ nay, hãy tu tập từ tâm như vậy đối với bốn loại vua rắn”. Thuở xưa, trú xứ của những người xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình thường là khu rừng, vách núi, hang động, đồng hoang… Ngay cả Đức Thế Tôn, khi đã có những tu viện do các cư sĩ xây dựng cúng dường như Trúc Lâm, Kỳ Viên… thì Ngài cũng chỉ cư trú trong ba tháng an cư mùa mưa, còn phần lớn thời gian Ngài đi hoằng pháp và nghỉ lại trong những khu rừng trên lộ trình du hóa.
Rừng hoang, hang động, vách núi… thường ẩn chứa những điều hiểm nguy. Muôn loài thú dữ và côn trùng độc hại đều lấy núi rừng làm nhà; ma quái, ly mỵ, vọng lượng… chắc cũng ẩn dật đâu đó. Những mối hiểm nguy luôn tiềm tàng giữa rừng núi hoang vu, vậy mà các Tỳ-kheo lại ưa thích đời sống viễn ly, độc cư, nhàn tĩnh giữa núi rừng. Vậy nên, có lần tai nạn đã xảy ra với các Tỳ-kheo.
Chuyện kể rằng, Tôn giả Upasena khi đang ngồi thiền trong hang Ðầu Con Rắn tại rừng Sitavana, thuộc thành Ràjagaha thì bị một con rắn cực độc rơi trúng trên người. Độc tố của loài rắn này không những giết chết Tôn giả Upasena mà còn hủy hoại, phân tán thân thể của Tôn giả thành một nắm trấu (Tương ưng bộ kinh).
Cùng sự kiện này, kinh Tạp A-hàm còn kể thêm rằng, khi ấy Tôn giả Sàriputta chứng kiến thi thể Tôn giả Upasena bị phân hủy, cho dù Upasena đã đạt được định lực thâm sâu, có được tâm và tuệ vô ngã nên không hề có biểu hiện đau khổ, nhưng Tôn giả Sàriputta rất thương xót, nên sau khi cúng dường xá-lợi Tôn giả Upasena xong, ngài liền đến chỗ Thế Tôn và kể lại sự tình. Đức Phật nghe xong thì dạy rằng, nếu Upasena tụng bài kệ và thần chú sau đây thì sẽ không trúng độc và thân thể cũng không bị hủy hoại như trấu nát được. Rồi thì Đức Phật dạy câu thần chú: Ô-đam-bà-lệ, đam-bà-lệ, đam-lục, ba-la-đam-lục, nại-tí, túc-nại-tí, chỉ-bạt-tí, văn-na-di, tam-ma-di, đàn-đế, ni-la-chỉ-thí, bà-la-câu-bế-ô-lệ, ô-ngu-lệ, tất-bà-ha.
Nguyên bản tiếng Phạn của câu thần chú trên chưa được tìm thấy, nhưng nội dung bài kệ tụng thì hoàn toàn phù hợp với câu thần chú trong Luật tạng Pāli, Tiểu phẩm (Cullavagga) cho trường hợp xảy ra tương tự, nhưng không phải Tôn giả Upasena mà là một Tỳ-kheo bị rắn cắn chết ở thành Savatthi. Bài thần chú ấy tạm dịch như sau: “Tôi xin hướng từ tâm/Đến loài Virūpakkhas/Đến loài Erapathas/Con cháu loài Chabyā/ Và loài Gotamakas đen/Tôi cũng hướng từ tâm/Đến chúng sanh không chân/Hai chân và bốn chân/Cùng chúng sanh nhiều chân./Nguyện các loài không chân/Hai chân và bốn chân/Và những loài nhiều chân/Không làm tổn hại tôi!/Nguyện hết thảy sanh vật/Các loài có hơi thở/Tất cả mọi chúng sanh/Mỗi một trong loài ấy/Đều gặp điều tốt lành/Không loài nào gặp nạn./Phật bảo là vô lượng/Pháp bảo là vô lượng/Tăng bảo cũng vô lượng/Còn chúng sanh bò, chạy/Như rắn, bò cạp, rết/Nhền nhện, thằn lằn, chuột/Chỉ có hạn lượng thôi/Nên tôi tụng bài kệ/Và thần chú hộ vệ/Xin các loài đi xa/Con kính lễ Thế Tôn/Cùng bảy Phật quá khứ”.
Nội dung của câu thần chú trong Luật tạng Pāli như vậy không khác gì mấy so với nội dung bài kệ tụng được ghi chép trong kinh Tạp A-hàm, kinh số 254 (số 252, bản Đại chính). Bài kệ tụng được xem như là thần chú ấy cũng được tìm thấy trong Tiểu bộ kinh, số 203, chuyện tiền thân Khandha-Vatta, với duyên do là có Tỳ-kheo bị rắn cắn chết khi đang chẻ củi.
Trong tất cả các bản kinh và luật trên đều có lời Phật khẳng định: “Nếu các ông tu tập từ tâm đối với bốn loại gia đình vua rắn này, các con rắn sẽ không cắn các ông, do vậy, bắt đầu từ nay, hãy tu tập từ tâm như vậy đối với bốn loại vua rắn”.
Như vậy, bản chất của bài kệ tụng mà hết thảy các Phật tử đều xem như thần chú bảo hộ (paritta) này là phương pháp tu tập phát triển tâm từ bi. Điều này cho thấy, để bảo hộ bản thân mình trước những hiểm nguy, người con Phật chỉ dùng một thứ ‘công cụ’ duy nhất là tâm từ bi. Khi tâm từ biến mãn mười phương thì không gì có thể làm tổn hại mình được. Cho nên, nếu tụng thần chú, dù là thần chú Đại bi, mà tâm của mình không có một chút tình thương đối với đồng loại, không từ niệm đối với chúng sanh thì thần chú không thể phát huy sức mạnh nhiệm mầu, không thể làm cho mình tai qua nạn khỏi, không thể bảo hộ mình trước những hiểm nguy, ách nạn…
Một điều đáng chú ý nữa là, khi tu tập phát triển tâm từ bi, hướng tâm đến các loài chúng sanh để ban rải tình thương hay cầu nguyện, thì tình thương ấy, lời cầu nguyện ấy phải là tình thương chân thật, lời cầu nguyện trên nền tảng của sự thật, phát sanh từ chân tâm. Kinh ghi: “Như lời chân thật này/Đại sư Vô thượng dạy”.
Như vậy, bản chất của thần chú là chân ngôn, là lời nói chân thật, không hư dối, là phương tiện để diễn đạt chân lý. Đọc tụng thần chú hàng ngày là cách sống nương tựa vào chân lý, sống với sự thật. Chẳng hạn khi mình đọc tụng chú Đại bi mở đầu bằng câu “Đại bi tâm đà-la-ni”, thì có nghĩa là con xin “duy trì, giữ gìn cái tâm tràn đầy yêu thương”. Chính cách sống, cách tu tập này mà chúng ta bảo hộ được bản thân, gia đình và xã hội thoát khỏi mọi khổ đau ách nạn; không những thoát khỏi sự tấn công của rắn độc, mà còn miễn nhiễm với mọi ô nhiễm của cuộc đời.
Theo Thích Nguyên Hùng - GN

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013



 TỪ ĐEN QUA TRẮNG
            Con đường sống và tu Đạo, dường như đầy rẫy những gian khổ và càng ngày càng chồng chất nhiều thêm nên, so với lúc ta vừa mới bước chân vào. Nhưng…dù là như vậy, cuộc đời không chỉ đem lại cho chúng ta những khó khăn mà thôi, cùng lúc với cơ cực, chúng ta càng trở nên mạnh mẽ thêm, và rồi ... Không những cưu mang được gánh nặng của cuộc đời... mà còn có thể với tay, giúp đỡ những bạn đồng hành, những người... Nếu không có sự giúp đỡ của chúng ta, họ có thể sẽ chật vật, ngã lên, ngã xuống, chập choạng trên cuộc hành trình.
            Thỉnh thoảng chúng ta có thể tuyệt vọng mà nghĩ : “ Tại sao ta lại vương vào chuyện này ? Theo Đạo thật khó... mà giải thoát lại ở mãi đâu đâu, mình lại yếu đuối , làm sao có thể về tới đích được ” ! Nhưng, ta cũng không thể lùi bước hơn được nữa, càng không thể dừng chân ở đây... Vì cuộc đời hiện tại chỉ là giây phút thoảng qua, không thể bám lấy mà nương tựa. Chúng ta phải tiếp tục, và hãy cố can đảm lên, bằng cách nghĩ đến những người đã đi trên con đường đạo trước mình, họ cũng đã từng chịu những thử thách tương tự.
            Chúng ta chỉ có thể bước mỗi lúc… một bước mà thôi…Và bước kế tiếp luôn là bước quan trọng nhất, và cũng là bước khó khăn nhất của cuộc đời, vì nó là những  đòi hỏi cao hơn. Bởi vậy, ta phải tập trung vào bước kế tiếp này. Đừng mỏi mắt nhìn lên đỉnh núi cao, bao phủ trên sương mây, rồi thắc mắc cảnh trí trên đó ra sao. Cứ yên trí, chúng ta sẽ đến đỉnh... khi thời điểm đến….và hãy kiên trì theo Đạo từng bước một. Nếu cứ mong cầu những kết quả chóng vánh, thường làm cho ta mờ mắt và không nhìn thấy được những thành quả vẫn thường xuyên xảy ra một cách lặng lẽ và bất chợt. Chúng ta mong tìm kiếm cái này, cái nọ ... mà không thấy được , những gì xảy ra ở trước mắt.
            Nên nhớ : mọi vật luôn thay đổi, chỉ ở những khúc quanh ... Ta có thể gặp được những yếu tố đó. Nếu ta để tâm, biết học cách tôn trọng và giúp đỡ những người xung quanh...
            Cái phần tử đó sẽ làm thay đổi toàn thể bức tranh một cách tuyệt diệu. Yếu tố đó, có thể: không phải một cái gì lớn lao, đột ngột và có tầm ảnh hưởng rộng lớn, nó rất có thể, chỉ là cái gì đó... có vẻ nhỏ nhặt, tầm thường và chính nó sẽ tạo mọi sự khác biệt ... Khiến ta sẽ kinh ngạc mà tự hỏi: tại… sao…trước… đây…. mình… lại bi quan như vậy ?
            Và, nếu chúng ta có thể giang rộng cánh tay để đón nhận những đắng cay của cuộc đời, thay vì cưỡng lại chúng, thì cuộc hành trình một chiều trên dòng đời sẽ không đến nỗi nhiều gian truân như vậy. Tại sao ta cứ cố mang " CAÍ TÔI " bé bỏng của mình, để cưỡng lại định mệnh của cuộc đời... mà không nhận biết: Hãy làm những việc nhân ái để giúp đỡ người và vật khác, hy vọng…có thể thay đổi phần nào định mệnh . Cái gọi là “ Đức nhân thắng số ” , hay còn gọi là “ Sửa tâm, tích phúc ”. Chúng ta phải biêt chấp nhận những nhược điểm của mình !  Và , hãy ngưng ngay việc tự dối trá, ngộ nhận mình là siêu nhân, mà hãy chấp nhận: Là những con người nông cạn, thiếu hiểu biết ! Chúng ta đang là nạn nhân... Bị chi phổi bởi biết bao điều bất ổn trong tâm trí ! Những điều này... Chẳng có gì lấy làm lạ. Thật ra, ta phải biết trước: nó sẽ như thế. Đức Phật đã nói: “ Tất cả những chúng sanh chưa giác ngộ đều bị đảo điên ở nhiều mức độ khác nhau ” hoặc có thể dùng những chữ khác, có ý nghĩa tương tự như vậy. Bởi thế, chúng ta không nên quá buồn, không riêng chúng ta phải chịu cái cảnh này mà thôi. Tuy nhiên, chúng ta không nhất thiết phải ở mãi trong tình trạng này, bởi chúng ta có khả năng thay đổi và phải tự cho phép mình cái khả năng đổi thay này…Và đừng quá khắt khe với chính mình. Nếu không làm như vậy, rồi sẽ có một ngày, có lẽ chúng ta sẽ không thể sống với chính mình nữa. Và rất có thể… sẽ đâm đầu vào một đoàn tầu, hay uống một liều thuốc... quá liều, hoặc làm những điều gì đó tương tự... Nếu buồn bã, chúng ta nên nhớ: “ Nỗi buồn đã phát sinh từ một số nguyên nhân nào đó... Việc đến, tất sẽ đến... và tất sẽ phải qua đi ”.
            Giống như mọi thứ khác, nếu cứ ôm chặt lấy nỗi buồn và trở nên buồn... vì mình buồn, chúng ta sẽ buồn gấp đôi, và tình trạng cứ  tiếp tục kéo dài như thế...
            Cũng vậy, khi giận dữ... Chúng ta không nên khó chịu với bất cứ ai, mà chỉ tự hỏi: Tại sao mình lại giận dữ ? Và chỉ nên nhận diện ra nó... Rồi để nó trôi qua , đừng tìm cách chống lại nó !
            Một điều nữa, đừng quên, thỉnh thoảng chúng ta nên dừng lại, để ngắm nhìn chính mình ... Để thấy chính mình trên sân khấu của cuộc đời. Nhiều khi, chúng ta đã quá khắt khe với chính mình, và từ đó : Đã đánh mất cái nhìn toàn diện.
            Dù rằng: Thế gian này đầy rẫy những khổ đau, nhưng cũng nên nhớ : Cũng có những lúc vui tươi và hạnh phúc…Và nó cũng là một vở kịch vui nữa, chứ không hoàn toàn là tấn bi kịch. Khả năng biết nhìn về khía cạnh sáng sủa của vấn đề, nhiều khi tự cười đùa về hoàn cảnh của chính mình... Là một bảo vật vô giá và có thể giúp ta chống đỡ, đưa ta vượt qua mọi gian truân đủ loại.
            Dọc theo cuộc hành trình, người theo Đạo... phải học hỏi để thấy được cái trắng trong cái đen, khi họ tinh thông với cái nhìn này, họ có thể chuyển đen thành trắng... và lúc đó: Những cục đá ngổn ngang trên con đường... Sẽ không còn là những chướng ngại nữa, mà được xem như những viên gạch lót đường. Cách nhìn van vật với một quan điểm sáng sủa... Có thể làm thay đổi sự hiểu biết của mình về vạn vật một cách đáng kể. Hãy nhìn bất cứ sự vật nào trong tầm mắt của bạn, ngay lúc này, một cây bút chẳng hạn, hầu hết chúng ta chỉ nhìn thấy cây bút như một vật dụng để viết mà thôi, chứ không để ý đến người đã có sáng kiến tạo ra cây bút, đã nhọc công và thử hết cách này đến cách khác, có lẽ đã chịu nhiều thất vọng để tạo ra nó. Do đó, cây bút còn mang nhiều ý nghĩa hơn chỉ là một dụng cụ để viết mà thôi. Người sáng tạo chẳng những chỉ biết mọi khía cạnh khác nhau của cây bút, mà chắc chắn còn biết nó với cả tình thương nữa.
           Chung quanh chúng ta, có biết bao điều tuyệt diệu... ở mỗi khúc quanh của cuộc đời, mỗi vật đều có câu chuyện riêng của nó. Vấn đề khó khăn là cặp mắt của chúng ta đã già nua và mệt mỏi, không còn thấy rõ ràng sự thật nữa. Chúng ta nói : “ Cuộc đời của tôi thật bình thường và đáng chán, không có gì lý thú xẩy đến với tôi cả... " Dĩ nhiên, điều này không đúng sự thật, cuộc sống chẳng bao giờ nhàm chán, ngược lại,  luôn mới mẻ và khác biệt. Nếu quán xét lại chính mình, có lẽ chúng ta thấy mình bị “ Tách rời ” hoặc không cùng tần số với cuộc sống. Từ đó, chúng ta phải điều chỉnh lại ... Cho đúng với tần số... Để thấy được: chúng ta là một phần của đời sống, thay vì… Tách biệt khỏi nó !
 vi
Trích trong cuốn : Turning the wheel
                                    Của Thượng Tọa : Abhinyana
Đức Viên : Chỉnh sửa, bổ sung

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, Vô Nhất đại Sư


Vô Nhất Ðại Sư Thích Thiền Tâm lược truyện
Bửu Quang tự đệ tử LiênHương kính lục
Nam mô Hương Nghiêm Tịnh Viện, Hương Quang Tịnh Thất, Phương Liên Tịnh Xứ đường thượng Tam Tạng Pháp Sư Vô Nhất Thượng Nhân thượng Thiền hạ Tâm húy Trí Hiền Hòa Thượng giác linh tác đại chứng minh.

Thượng Nhân pháp danh Trí Hiền, pháp tự Thiền Tâm, biệt hiệu Vô Nhất, bút hiệu Liên Du, thế danh là Nguyễn Nhựt Thăng, sanh năm Ất Sửu (1926) tại làng Bình Xuân, quận Hòa Ðồng, tỉnh Gò Công. Là con thứ mười của cụ Nguyễn Văn Hương, một bậc túc nho, và cụ bà Giác Ân Trần Thị Dung. Trong khi mang thai Ðại Sư, cụ bà đột nhiên chăm lo làm công quả tại ngôi chùa nhỏ trong làng. Có lẽ đó là do phước nghiệp của Ðại Sư chiêu cảm nên điều này.

Từ thuở nhỏ, Ðại Sư đã không thích chạy giỡn, chơi đùa mà thường thích thắp hương, bái xá, và theo thân phụ học chữ Nho. Ðến năm lên chín tuổi, Ðại Sư đã có thể đọc trôi chảy các sách Nho học như Tứ Thư, các bộ truyện Tàu và viết chữ Hán khá lưu loát. Song song với việc học chữ Hán, Ðại Sư còn học tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ.

Từ năm lên bảy tuổi, nhân mục kích cái chết rất trẻ của một thiếu niên trong xóm, Ðại Sư đã bắt đầu có những ưu tư về lẽ sống chết. Vào khoảng năm 1935, lúc lên mười tuổi, trong lúc đang cắt cỏ ruộng với thân phụ, chợt Hòa Thượng Phật Ấn, trụ trì chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), đi ngang. Ðại Sư liền chạy tới ba lượt đảnh lễ Hòa Thượng. Hòa Thượng liền huyền ký về sau đứa trẻ kỳ lạ này sẽ xuất gia và nhắc nhở gia đình không nên ngăn cản.

Cuối năm 1937, sau khi hoàn tất bậc Tiểu Học, Ðại Sư xin phép cha lên Mỹ Tho, ngụ tại chùa Vĩnh Tràng để tiếp tục học chữ và Ðông Y. Chính trong thời gian này, Ðại Sư đã tận dụng thời gian rảnh rỗi để tự trau giồi nội điển cũng như tham học Phật pháp với Bổn Sư Hòa Thượng Phật Ấn. Hòa Thượng đặt cho pháp danh cho Ðại Sư là Trí Hiền. Do cơ duyên, Ðại Sư cũng được học theo nghề thuốc với một vị Ðông Y Sĩ nổi tiếng ở Mỹ Tho thời đó là thầy Tế An Ðường và các vị đại phu nổi tiếng khác.

Ðến năm 1943, Ðại Sư đã lấy được bằng Thành Chung (tương đương Trung Học Ðệ Nhất Cấp sau này). Trở về quê nhà, Ðại Sư vừa hốt thuốc cho thân mẫu đang lâm bịnh vừa giảng dạy Phật pháp cho song thân và người anh thứ năm. Dưới sự khuyến hóa của Ðại Sư, gia đình ngài đã biết thờ Phật và tu niệm.

Năm 1945, sau khi cầu thỉnh xin xuất gia không được song thân chấp nhận, ngài đã lén trốn đi, tìm đến chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở Xoài Hột để xin xuất gia với Hòa Thượng thượng Thành hạ Ðạo. Ðại Sư được thọ Sa Di Giới với pháp tự là Thiền Tâm.

Nhận thấy sa di Thích Thiền Tâm sẽ là một bậc long tượng cho Phật Giáo Việt Nam sau này, Hòa Thượng Linh Thứu đã thuyết phục Ðại Sư lên Sài Gòn, tìm đến Hòa Thượng viện chủ Tổ Ðình Ấn Quang thượng Thiện hạ Hòa để xin gia nhập Phật Học Viện Liên Hải (chùa Sùng Ðức) hầu thụ học chương trình Trung Ðẳng Phật Học từ năm 1948 đến năm 1950.

Năm 1950, Ðại Sư thọ Cụ Túc Giới và cầu pháp nơi Viện Chủ Tổ Ðình Ấn Quang kiêm đốc giáo Phật Học Ðường Nam Việt là Hòa Thượng Thiện Hòa. Khi chương trình Cao Ðẳng Phật Học khóa 1 được khai giảng, do thành tích học tập xuất sắc, Ðại Sư được chọn vào lớp Tăng Sinh đầu tiên. Dù chỉ mới 24 tuổi, Ðại Sư đã được ban giáo thọ tin cậy, giao đảm nhiệm chức vị Tri Chúng (tức là trưởng tràng). Trong quá trình học tập, Ðại Sư luôn nổi bật về mọi phương diện học vấn, tài đức, khả năng, thiện chí.

Khi khóa học hoàn tất vào năm 1954, trong số hơn 100 học tăng, chỉ có 13 vị được tốt nghiệp, Ðại Sư được xếp hạng Tối Ưu. Sau khi tốt nghiệp, Ðại Sư được ban giảng sư Phật Học Ðường Nam Việt giao trách nhiệm hoằng dương Tịnh Ðộ. Ðại Sư đã khẩn nài các vị tôn túc cho ngài được nhập thất chuyên tu Tịnh Ðộ một thời gian để có thể hoàn thành trọng trách ấy; nhưng các vị tôn sư chỉ hứa khả cho ngài nhập thất trong một thời gian ngắn và phải xuất quan bất cứ khi nào giáo hội cần đến ngài.

Trở về Mỹ Tho, Ðại Sư lập cốc tại Cái Bè để chuyên tu Tịnh Nghiệp suốt năm năm (1955-1960). Trong thời gian ẩn cư này, dù gặp nhiều chướng duyên khảo đảo, Ðại Sư vẫn tinh cần tu tập, đồng thời biên dịch hai tác phẩm quan trọng làm tư lương cho Tịnh Ðộ học nhân Việt Nam:

* Trích tuyển những bài văn quan trọng trong cuốn Ấn Quang Văn Sao, soạn thành tác phẩm Lá Thư Tịnh Ðộ (hoàn tất năm 1956) nhằm phá nghi, hóa đạo chúng sanh tin tưởng, hành trì Tịnh nghiệp.

* Soạn thuật bộ Tịnh Ðộ Tân Lương, 2 quyển, dày 800 trang để chỉ dạy cặn kẽ sự lợi ích thiết thực của pháp môn Tịnh Ðộ cũng như cách thức tu hành sao cho xứng hợi với từ bi nguyện hải của đức Từ Phụ Di Ðà.

Từ năm 1960-1962, Thượng Nhân tiếp tục nhập thất tịnh tu tại Vang Quới (Bến Tre) và soạn thuật những tác phẩm quan trọng sau đây như Hương Quê Cực Lạc, Tịnh Ðộ Thập Nghi Luận, Tịnh Ðộ Pháp Nghi. Tiếp đó, trong thời gian nhập thất tịnh tu tại tịnh thất Giác Duyên (Chợ Gạo, Mỹ Tho), ngài đã phiên dịch kinh Phật Thuyết Thiện Ác Nhân Quả Báo Ứng theo thể văn vần và soạn thuật bộ Quán Vô Lượng Thọ Sớ Sao. Ðây là một công trình đặc sắc tổng hợp các ý kiến phán giáo và chú giải kinh Quán Vô Lượng Thọ của các vị Tổ Sư lỗi lạc như Thiên Thai Trí Giả, Linh Chi Nguyên Chiếu, Liên Tông Nhị Tổ Thiện Ðạo v.v…

Năm 1963, sau cơn Pháp Nạn, viện Trung Ðẳng Chuyên Biệt Phật Học được thành lập để đào tạo tăng tài tại chùa Huệ Nghiêm (Phú Lâm, Sài Gòn). Hòa Thượng Thiện Hoa đã triệu Ðại Sư về Sài Gòn giữ chức Viện Trưởng kiêm Ðốc Giáo với sự phụ tá của hai vị Thượng Tọa Bửu Huệ và Thanh Từ. Học Viện sau được đổi tên thành Viện Cao Ðẳng Phật Học Huệ Nghiêm. Ðể việc đào tạo được toàn diện, Ðại Sư đã quyết định mở thêm việc học ngoại điển theo chương trình văn hóa phổ thông theo quy định của Bộ Giáo Dục. Ngoài việc giảng dạy tại Huệ Nghiêm, Ðại Sư còn được cung thỉnh làm giảng sư giảng dạy môn Duy Thức cho Phân Khoa Phật Học của viện đại học Vạn Hạnh và làm giáo thọ cho các ni trường Dược Sư và Từ Nghiêm.

Tuy rất bận rộn, Hòa Thượng vận tiếp tục soạn thuật các tác phẩm quan trọng sau đây: Phật Học Tinh Yếu, Niệm Phật Thập Yếu, Duy Thức Học Cương Yếu, Ðại Bi Tâm Ðà Ra Ni (Ðại Chánh Tạng, quyển 20, kinh số 1060, bản Hán dịch của ngài Già Phạm Ðạt Mạ). Riêng cuốn Niệm Phật Thập Yếu là một tác phẩm cực quý cho hành giả Tịnh Nghiệp, luận về mọi phương diện sự lý của pháp Trì Danh Niệm Phật, cách thức tu tập, ngăn ngừa chướng duyên cho hành giả Tịnh Ðộ. Vì thế, tác phẩm này đã liên tục được tái bản, tục ấn. Ngay cả Tịnh Tông Học Hội Ðài Loan cũng đã trùng ấn tác phẩm này với số lượng lớn (10.000 cuốn).

Tiếc thay, Ðại Sư đảm nhận trách nhiệm đào tạo Tăng tài cho Giáo Hội nhằm ngay thời kỳ đấu tranh kiên cố của thời Mạt Pháp. Ngay trong số những học tăng đang theo học tại Huệ Nghiêm, không ít vị đã bị lôi cuốn vào những cuộc đấu đá, sách động nhằm tranh giành quyền lực vô bổ. Chủ trương chuyên tâm nghiên cứu Phật học, tuyệt đối không tham gia vào những cuộc tranh chấp thế tục khoác mỹ hiệu bảo vệ đạo pháp của Hòa Thượng bị chống đối và ngài bị chỉ trích là khiếp nhược, cầu an, thiếu tinh thần tương trợ để tăng thêm “sức mạnh” cho Phật Giáo Việt Nam!

Nhận thấy không thể làm gì khác hơn được để vãn hồi tình trạng hỗn loạn nay biểu tình, mai tuyệt thực chống đối chính phủ được cầm đầu bởi những tăng sĩ hoạt đầu đầy tham vọng thời ấy, Ðại Sư đành chọn con đường từ nhiệm để kết thất ẩn tu. Năm 1967, nhân một người tục gia đệ tử là Minh Thiện đến thăm và nhắc đến ấp địa danh Phú An, thấy địa danh này phù hợp với lời tiên triệu của Cố Bổn Sư mình trong giấc mộng nên vào tháng 12 năm đó, Hòa Thượng đã quyết chí tạ từ Hòa Thượng Phó Tăng Thống Thiện Hòa để xin về Ðại Ninh ẩn tu, giao Phật Học Viện Huệ Nghiêm lại cho Thượng Tọa Bửu Huệ quản trị. Tuy vậy, Ðại Sư vẫn phải lưu Học Viện một thời gian để giúp đỡ Thượng Tọa Bửu Huệ theo lời yêu cầu của Hòa Thượng Phó Tăng Thống. Mãi đến năm 1968, việc xây cất Hương Quang tịnh thất ở Phú An đã xong, Hòa Thượng liền chính thức ẩn tu vào năm 43 tuổi!

Ðại Ninh là một vùng hoang vu nằm cách quốc lộ 20 chừng ba cây số, cạnh sông Ðại Ninh thuộc khu vực thủy điện Ða Nhim. Hương Quang tịnh thất được dựng trên một vùng đất hoang vu toàn gò mối, rắn rết thuộc thôn Ðại Ninh, thôn Phú An, xã Phú Hội, quận Ðức Trọng, tỉnh Lâm Ðồng. Thôn Phú An chỉ có chừng 50 nhà và chỉ có 10 nhà là người Kinh. Hương Quang tịnh thất chỉ là một căn thất nhỏ lớn chừng 2 phòng ngủ gồm 2 tầng: tầng trên để thờ Phật, tầng dưới để ở và làm việc. Về đây, Ðại Sư chỉ lo chuyên tu trì niệm, rảnh rỗi thì làm vườn, dọn rẫy. Ðức hạnh của Sư đã cảm nhiều loài dị loại đến nghe kinh, hộ thất. Hòa Thượng đã thực hành pháp Du Già Thí Thực để hồi hướng công đức đến cho chúng. Theo các đệ tử của ngài, những loài linh xà thường hiện thân trong giấc mộng xin quy mạng, thọ giới. Hòa Thượng đều hoan hỷ lập đàn truyền giới cho họ.

Tuy đã quyết chí ẩn lánh thế tục, nhưng tứ chúng vẫn mến mộ đức hạnh của một bậc cao tăng đức hạnh nên lần lượt đổ dồn về Ðại Ninh lập thất tu học. Chỉ trong vòng một năm từ 1969 đến 1970, vùng Ðại Ninh hoang vắng đã trở thành một “làng tu” nổi tiếng ở Lâm Ðồng. Do tứ chúng vân tập quá đông đảo, chẳng đặng đừng, Ðại Sư phải xuất quan theo lời thỉnh cầu của mọi người để lãnh đạo công việc kiến thiết một tu viện cho tứ chúng có nơi an cư tu học. Nhờ phước lực của Hòa Thượng, một đại đội công binh chịu trách nhiệm tu bổ kiều lộ trong vùng đã hoan hỷ đứng ra góp phần xây cất tu viện.

Ðầu năm 1971, Hương Nghiêm tịnh viện được hoàn thành, trở thành đạo tràng Tịnh Ðộ đầu tiên trong vùng. Cuối năm 1971, Ðại Sư giao việc quản trị Hương Quang Tịnh Thất và Hương Nghiêm Tịnh Viện cho đại chúng quản trị để nhập thất vĩnh viễn tại Phương Liên tịnh xứ ở gần đó. Hòa Thượng dành trọn thời gian để tụng niệm, quán tưởng, lễ bái, dịch thuật. Trong thời gian này, Ðại Sư đã phiên dịch các tác phẩm quan trọng sau đây: Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà Ra Ni (Ðại Chánh Tạng quyển 19, kinh số 967), Ðại Nhựt Kinh Sớ (do ngài Nhất Hạnh trứ tác, Ðại Chánh Tạng quyển 39, kinh số 1796 gồm 20 quyển), Mấy Ðiệu Sen Thanh (lược dịch Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục), chú giải 100 bài kệ Niệm Phật của Tổ Triệt Ngộ, Liên Tông Thập Tam Tổ, Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục, Nhơn Quả Luân Hồi Tạp Lục Ký, Tây Phương Nhật Khóa và nhiều bản kinh Mật Tông quý giá khác.

Tháng Giêng năm 1989, nhận biết thân mẫu mình sắp mãn phần, Hòa Thượng đã cho người đón mẹ lên Phương Liên Tịnh Xứ để dùng phương tiện thiện xảo khuyến hóa mẹ nhất tâm niệm Phật. Ngày mồng 2 tháng 5, cụ bà đến chào từ biệt Hòa Thượng để đi xa. Biết mẹ đã biết trước ngày quy tịch, ngày hôm sau, Hòa Thượng đã nhóm chúng hộ niệm cho cụ. Ðến 12 giờ trưa ngày 3 tháng 5, cụ bà đã ngỏ lời chào vĩnh bệt và thoát hóa trong tiếng niệm Phật của đại chúng, thọ 98 tuổi.

Kể từ năm 1989, thân tứ đại của Ðại Sư đã không điều hòa, nhưng Ðại Sư cương quyết khước từ bao lượt thỉnh cầu về Sài Gòn chữa bịnh của các môn đồ. Dù thân bịnh trầm kha, Ðại Sư luôn tinh tấn và tùy cơ nhiếp hóa chúng sanh không mệt mỏi. Mồng Hai tháng Tám năm 1992, biết trước ngày vãng sanh, Hòa Thượng đã viết di chúc dặn dò hậu sự và chính thức chỉ định Ni Sư Thanh Nguyệt làm trưởng tử và là người chịu trách nhiệm chính lo liệu hậu sự cho Ðại Sư vào ngày 12 tháng 10 năm 1992 để tránh những tranh chấp có thể xảy ra sau khi Hòa Thượng viên tịch. Trong di chúc, Hòa Thượng dặn các môn nhân hoặc bỏ xác ngài trong rừng hoặc quăng xuống vực thẳm để thí cho các loài chim, thú, thủy tộc; hoặc bó chiếu chôn sâu, khỏa bằng, trên trồng thơm chuối. Cùng lắm là đóng sơ mấy tấm gỗ tạp, trong độn lá chuối, trên để tấm pháp y, xây ngôi mồ cỏ đơn sơ. Trên mộ, dựng tấm bia: “Bất huệ nạp tăng Thích Thiền Tâm hiệu Vô Nhất mai cốt xứ” (Chỗ vùi xương của ông sư thiếu trí huệ là Thích Thiền Tâm hiệu Vô Nhất).

Ðêm 20 rạng 21 tháng 11 năm Nhâm Thân 1992, Ðại Sư trì niệm suốt buổi trước bàn Phật. Ðến 3 giờ sáng, sư sai ni sư thị giả triệu đại chúng nhập thất hộ niệm. Ðại Sư thay y hậu tề chỉnh, an tọa ngồi niệm Phật giữa tiếng hộ niệm tha thiết của đại chúng. Ðại Sư an ủi:

- Hãy bình tâm lại, đừng có khóc nữa. Ta được về Tây là điều hân hạnh, các con hãy theo đó mà cố gắng niệm Phật chuyên cần. Nếu được như vậy, ắt một ngày kia sẽ cùng hội ngộ nhau nơi miền An Dưỡng.

Rồi ngài đọc kệ thị tịch:

Ðời ta chí gởi chốn Liên Trì

Trần thế vinh hư sá kể gì

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm

Mừng nay được thấy đức A Di.

Nói xong, Ðại Sư yên lặng nhập định. Ðến 6 giờ 15 phút, Ðại Sư bỗng mở mắt, chắp tay nói:

- Ta đi đây! Ðại chúng nên bảo trọng.

Rồi tay vẫn kết ấn Di Ðà định, an nhiên tọa hóa quy Tây ngay trên bản tọa. Ðại Sư thọ 68 tuổi đời, 48 tuổi đạo, hạ lạp 42.

Lễ di quan, nhập tháp hoàn tất vào khoảng 8 giờ sáng ngày 25 tháng 11 năm Nhăm Thân (tức 18 tháng 12 năm 1992). Trong lễ khai mộ vào ngày 21 tháng 12, 1992, đại chúng thấy có một cặp rắn vàng óng bò đến nằm trước mộ một lúc lâu, rồi ngẩng đầu, gật đầu chào ni sư Thanh Nguyệt ba lần trước khi bò mất dạng. Theo các môn nhân, đó là cặp vợ chồng rắn đã từng quy y với Hòa Thượng trước kia. Ðại Sư có lưu lại một kim cang nha xỉ xá lợi (tức là một cái răng rất chắc chắn, sáng đẹp, không ai cưa cắt nổi).

Xét công hạnh, Ðại Sư không những chỉ giáo hóa bằng ngôn giáo mà còn bằng cả thân giáo. Bao nhiêu người nhờ vào những tác phẩm của ngài hay được gặp gỡ ngài mà được lợi lạc nơi pháp môn Tịnh Ðộ. Ðiểm qua những dịch phẩm và trước tác của ngài, điểm nổi bật là một trình độ Phật học uyên thâm, một mức độ hiểu biết sâu xa các nền triết học ngoài Phật giáo được trình bày bằng một văn pháp giản dị, chính xác, trong sáng, trau chuốt, nhẹ nhàng, thanh thoát, bóng bảy nhưng không hoa mỹ, cầu kỳ, ý tứ thâm trầm nhưng dễ hiểu. Có nhiều đoạn Ðại Sư chỉ dịch ý để cho hàng hậu học dễ lãnh hội được ý nghĩa của từng văn bản cổ thay vì bám chặt theo mạch văn khiến cho người đọc có cảm giác những tác phẩm ấy vừa được viết ngay trong thời đại này, thay vì đã được viết ra vào thời Ðường, thời Tống cách đây cả ngàn năm.

Có đọc những dịch phẩm ấy, ta mới thấy kiến văn của Ðại Sư vô cùng quảng bác, không những chỉ đọc hết những kinh điển Tịnh Ðộ trong Ðại Tạng và Tục Tạng, Ðại Sư còn đọc rất nhiều tác phẩm Tịnh Ðộ cận đại nữa. Tuy chuyên chú nơi Tịnh Ðộ, Ðại Sư vẫn bác lãm các kinh điển của chư Tông, mà điển hình nhất là Ðại Sư đã được cung thỉnh dạy môn Duy Thức cho học tăng và sinh viên ngành Phật Học tại Ðại Học Vạn Hạnh khi còn rất trẻ.

Không những là một vị tôn sư của Tịnh Ðộ, Vô Nhất Thượng Nhân còn là một hành giả thành tựu trong Kim Cang Thừa. Tuy chỉ dùng Mật chú làm trợ hạnh để hỗ trợ cho Tịnh nghiệp, Ðại Sư đã đạt những thành tựu lớn lao trong Mật tông. Rất nhiều hành giả Mật Tông được pháp ích khi đến cầu học với ngài. Qua những dẫn giải thi thoảng đây đó trong các tác phẩm giảng dạy về Tịnh Ðộ, ta thấy Vô Nhất Thượng Nhân là một trong số rất ít những đại sư thâm hiểu tột cùng giáo pháp phức tạp, vi diệu của Ðông Mật, nhất là hai hệ thống giáo nghĩa Kim Cang và Thai Tạng. Cùng với A Xà Lê thượng Viên hạ Ðức, Ðại Sư Thiền Tâm được xưng tụng là tối thượng Kim Cang A Xà Lê của Mật tông Việt Nam. Khi chọn các bản kinh Mật Tông để dịch, Hòa Thượng cũng thận trọng chọn lấy những bản hoàn chỉnh nhất để dịch và chú giải tỉ mỉ khiến cho dịch phẩm của ngài dễ hiểu, dễ thực hành, vượt xa các dịch phẩm của những vị hoằng truyền Mật tông khác.

Thị hiện chỉ 68 năm trên cõi trần gian này và thực sự hành hóa chỉ 42 năm nhưng Ðại Sư đã đóng góp rất lớn lao vào kho tàng văn hóa Phật Giáo Việt Nam. Chỉ bằng những tác phẩm của mình, Ðại Sư đã hóa độ bao nhiêu tứ chúng hữu duyên, huống hồ là những ai có cơ duyên gặp gỡ, đích thân lãnh thọ sự giáo hóa của ngài. Thế mà, Ðại Sư vẫn khiêm tốn chỉ xưng mình là Vô Nhất, lấy ý từ câu “Nhất sự vô thành, thân tiệm lão” (không có chuyện gì làm cho ra hồn hết mà thân đã già dần mất rồi). Ðức hạnh, phong thái khiêm tốn ấy càng làm cho tứ chúng ngưỡng mộ, khâm kính. Ngưỡng mong hàng Phật tử Việt Nam ta sẽ luôn được giác linh ngài thầm gia hộ, dìu dắt để cùng được hội ngộ chốn Lạc Bang.

(Tài liệu tham khảo chính: Vô Nhất Ðại Sư Thích Thiền Tâm, một cao tăng cận đại của Bảo Ðăng do chùa Pháp Hoa ấn hành)
Phụ lục:

Khuyến Tu


Hòa Thượng Thích Thiền Tâm soạn dịch

Xưa Nhan Bình, Như Như cư sĩ,

Dẫn luận kinh, ý ý khuyên cầu

Bút nhàn khuyên giữa canh thâu

Tình ai trần lụy, đổi sầu làm tươi

*

Thân bào ảnh lắm người yêu tiếc

Yêu quý thân cho lụy vì thân

Cuộc vui những ước vô ngần

Nào hay vui vẫn là nhân chác sầu!

Kiếp phù thế bóng câu cửa sổ (1),

Vóc huyễn hư giọt lộ lòng hoa (2)

Ðôi mươi trẻ, tám mươi già

Số người yểu thọ, khó qua vô thường

Dép dưới giường, trên giường bỗng biệt

Sống ngày nay dễ biết ngày mai

Mạng người hô hấp cho hay,

Nghĩ cơn vĩnh biệt, tuyền đài mà đau!

Xót duyên kiếp vì sao ngắn ngủi

Chấp thân chi để tủi cho thân,

Da bao những thịt, xương, gân

Xác người như thể đống phân sạch gì!

Tóc, răng, móng khác chi đất bợn

Mũi, dãi, đờm ghê tởm xiết bao

Bên ngoài rệp đút, muỗi đeo,

Bên trong sán, lải lẫn vào nhớp chưa?

Nỗi nóng bức, ngày trưa tiết Hạ

Cơn lạnh lùng, đêm giá trời Ðông

Xét thân nhơ khổ vô cùng,

Xả lòng tham luyến, khởi lòng thoát ly

*

Trách người thế mê chi lắm nhẽ!

Sánh phong lưu phô vẻ y quan!

Kẻ khờ cũng học đài trang

Ðể lòng điên đảo theo đàng sắc thanh

Ðầu xương sọ: cài trâm, thắt lụa

Ðãy da hôi: ướp xạ, xông hương

Khéo đòi nhung gấm phô trương

Chỉ tuồng che lớp vô thường hôi tanh

Những mảng tưởng ngày xanh muôn tuổi

Lắm cơ mưu theo đuổi yên hoa

Ngờ đâu tai điếc, mắt lòa,

Diêm Vương sắp rước đến tòa U Minh

Làn tóc bạc đưa tin quỷ sứ

Gốc răng long nhắn ý quy âm,

Càng tài, càng sắc, càng dâm

Càng cho đọa lạc, càng lầm mà thôi,

Cuộc hành lạc một đời tham tiếc

Nẻo luân hồi muôn kiếp đắng cay

Ðến khi sắp xuống Diêm Ðài

Thịt xương đau nhức, chân tay rụng rời,

Vợ lưu luyến đầy vơi giọt lệ

Con tiếc thương kể lể khóc than

Dầu cho quyến thuộc muôn ngàn

Có ai thay thế cho chàng được đâu!

*

Kẻ sống ở nặng oằn gánh tủi,

Người chết đi rong ruổi phách hồn

Ðường âm mờ tựa đêm hôm

Trông ra quạnh quẽ, bồn chồn chỉn ghê!

Nại Hà đến lạnh tê gió lốc,

Quỷ Môn Quan ghê gốc tiếng thương

Bảy ngày lìa quá cõi dương

Âm ty đã trải trăm đường khảo tra.

Tào quan xử thét la chẳng vị,

Ngục tốt hờn, xoa, chủy đâu tha.

Ðài gương Nghiệp Cảnh chói lòa

Soi tường thiện, ác chối qua được nào.

Người nhân đức đưa vào cõi phước

Kẻ hung hoang giải trước hình ty,

Ðọa đày thảm khổ xiết chi,

Mới hay nhân quả mấy khi sai lầm

Rừng đao kiếm bao năm hết tội

kiếp lông sừng nhiều nỗi đa mang,

Trả đền cho dứt nghiệp oan

Mới mong thoát khỏi con đàng long đong

Dù ai có to lòng, lớn mật

Mặc chàng hay báng Phật, khinh Tăng,

Chẳng qua đối trước Diêm quân

Cúi đầu, co gối chịu phần khảo tra

*

Hồn phách đã xa chơi âm giới

Thi hài còn nơi cõi dương gian

Có tiền mua lớp áo quan

Không tiền vùi chốn núi hoang lạnh lùng

Chất da thịt sẽ lần tan rã,

Tấm hình hài lần hóa tanh hôi

Chỉ trong hôm sớm mà thôi

Chầy năm bảy bữa, sớm thời ít hôm,

Nét kiều diễm chập chờn xuân mộng

Kiếp tài hoa hình bóng bạch vân

Khi xưa tài sắc mười phân,

Mà nay một nấm cô phần lạnh tanh,

Thời oanh liệt, anh hùng đâu tá?

Nỗi ái ân hư giả còn ghi!

Phất phơ cành liễu xanh rì

Giấy tiền treo đó dường ghi mối sầu

Bóng chiều rủ xuống màu cỏ biếc

Bia mồ trơ một chiếc vắng không

Nghĩ thôi rơi lệ chạnh lòng

Ðời người đến thế là xong cuộc đời

*

Ví chẳng biết tìm nơi giải thoát

Nương về ngôi Chánh Giác quy y

Luân hồi dứt hẳn có khi

Bên trời Bát Nhã còn chi lo phiền

Lối ma quỷ đừng riêng sinh sống

Ðất từ bi có giống hoa đàm

Giữ lòng thiện, dứt lòng tham,

Gái, trai, tăng, tục đều ham tu hành

Rõ cảnh mộng chớ quanh đường mộng,

Biết miền chơn hãy chóng tu chơn,

Dần dà tính thiệt, so hơn

Tuổi xuân qua mất để hờn về sau

Sáu chữ Phật cùng nhau gắng niệm

Chín phẩm đài sen chiếm ngôi vinh,

Chớ nên mình phụ lấy mình

Trách sao Diêm lão vô tình chẳng dung!

Bỏ điều ác xin cùng tu thiện,

Chừa lỗi xưa, cải tiến đường sau

Lại vì quyến thuộc bảo nhau

Cùng khuyên già trẻ sớm mau tu trì

Khiến mỗi kẻ đồng quy bến giác

Cho mọi người đều thoát sông mê.

Dù cho lao khổ dám nề,

Ðài sen đốt mảnh hương thề nguyền xin…

Xin dốc tưởng tin theo lời Thánh

Ðừng để cho rỗi rảnh, ưu du

Kiếp này nếu chẳng chuyên tu,

Chỉn e kiếp khác công phu lỡ làng []



(1) Lấy ý từ câu: “Nhân sinh như bạch câu quá khích” (Ðời người như bóng con ngựa trắng chạy vọt qua khe cửa hẹp).

(2) Giọt lộ lòng hoa: Giọt sương đọng trên cánh hoa, chốc lát tan mất.

Nguồn Adidaphat.net - dienbatn giới thiệu .

Nguồn trích dẫn (0)

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Huyền bí nơi phát tích đạo Phật VN
20:44 7 thg 4 2012Công khai0 Lượt xem 0

(Đất Việt) Ngồi thiền nhưng trong đầu lại hiện lên cảnh một ngôi chùa với những ngôi mộ cổ hiện lên rõ mồn một. Không biết vị trí chính xác ở đâu chỉ thấy trên mái chùa phấp phơ sương trắng với một vòng hào quang chói lòa. Sư thầy Thích Thanh Toàn nói như thế khi kể về việc bắt đầu đi tìm lại ngôi chùa nay chỉ còn là dấu tích.

>> Đi tìm dấu chân các vị thần bất tử (kỳ 4)
>> Đi tìm dấu chân các vị thần bất tử (kỳ 3)
>> Đi tìm dấu chân các vị thần bất tử (kỳ 2)
>> Đi tìm dấu chân các vị thần bất tử (kỳ 1)

Đam mê đạo Phật và có căn tu từ nhỏ, sư thầy Thích Thanh Toàn khi chính thức tu hành tại chùa Tây Thiên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc) đã tự đặt câu hỏi: "Phật giáo Việt Nam khai sinh từ đâu?". Câu trả lời chỉ có trong một số tài liệu ít ỏi về Phật giáo và vẫn chưa ngã ngũ mà sư thầy tìm đọc được.

Hành trình tìm chùa Địa Ngục

"Một giả thuyết cho rằng chùa Địa Ngục trên đỉnh Tam Đảo, Vĩnh Phúc là nơi Đức Chử Đồng Tử sau khi học phép tiên của sư tổ Phật Quang đã ẩn tu ở Nê Lê đã khai sáng ra đạo Phật của nước Việt. Thế nhưng chùa Địa Ngục ở đâu và còn hay mất thì không ai rõ. Đã có nhiều khảo cứu tìm chùa Địa Ngục mà không ai tìm được", sư thầy Thích Thanh Toàn nói. Không biết tiền nhân mách bảo hay Đức Phật hiển linh đã chỉ đường cho tôi tìm được chùa Địa Ngục, nơi được coi là khai sinh ra Phật Giáo Việt Nam".

Mùa thu năm 2008, trong lõi rừng Tam Đảo, một đoàn người cõng ba lô lần đường đi trong đêm tối. Trong đoàn người, nhà sư vừa dẫn đường vừa niệm Phật hiệu. Sáu người khác là hai phật tử từ Hà Nội lên, 4 nhân vật còn lại là người dân tộc bản địa thông thuộc đường đi lối lại. Những con dốc xuyên rừng dựng đứng làm chậm hẳn bước tiến của đoàn người. Đi từ đầu giờ Tí (23g) mà mãi đến giờ Mão (7g), khi ánh mặt trời đã lấp lóa đỉnh núi họ vẫn chưa tìm được chùa Địa Ngục. "Lạc đường rồi!", sư thầy Thích Thanh Toàn, người dẫn đầu đoàn người buông tiếng thở dài.


Chùa Địa Ngục hiện nay dựng trên nền cũ. Ảnh: M.Phương.

"Đó là lần thứ sáu, tôi có mặt cùng sư thầy Thích Thanh Toàn và đoàn người đi tìm dấu vết chùa Địa Ngục nhưng thất bại", cô Trần Thị Huyền, một phật tử ở Thanh Xuân, Hà Nội nói. Quyết tâm “phải tìm bằng được chùa Địa Ngục” của sư thầy Thích Thanh Toàn được cụ thể bằng chuyến đi thứ 7 giữa bạt ngàn rừng xanh và núi cao Tam Đảo.

Chuyến đi thứ 7 của sư thầy và đoàn người kéo dài 4 ngày đêm. Dấu chân của họ có ở khắp hang cùng, núi hẻm trên dãy núi Tam Đảo linh thiêng. Đến ngày thứ 4, khi lương khô của đoàn người đã cạn, nước uống cũng chỉ đủ cho nửa ngày thì trên ngọn núi cao nhất của dãy Tam Đảo hiện ra nền móng của một hoang tích. Những dãy đá làm móng vẫn còn nguyên vẹn nhưng đã chìm trong cỏ dại cao ngập đầu người. "Cuối cùng Đức Phật cũng không phụ Phật tâm. Móng chùa Địa Ngục rộng hơn 400m2 đã được xác định. Nền cũ đã hoang phế nhưng vẫn thoảng tiếng kinh kệ, hương trầm", sư thầy Thích Thanh Toàn không dấu niềm vui khi kể lại.

Nơi phát tích đạo Phật Việt Nam?

Năm 2009, sau khi phát hiện ra chùa Địa Ngục, sư thầy Thích Thanh Toàn phát tâm thư công đức dựng lại chùa: "Ngậm ngùi thay! Trước cảnh thăng trầm, biến đổi vô thường của tạo hoá, các đại danh lam, cổ tự, bảo tháp nay chỉ còn đống gạch vụn đổ nát, chất dày bởi lớp bụi thời gian. Dẫu biết vạn vật có sanh tức có diệt, có thành tức có hoại, là kẻ hậu học chúng ta không thể vô tâm trước cảnh hoang tàn đó".

Hàng ngàn ngày công lao động của người dân địa phương đã góp sức làm đường mòn lên núi. Đại hồng chung cũng được đúc để đưa lên. Nhưng đến tận năm 2012, ngôi chùa cũng vẫn chỉ là một chiếc lán nhỏ trên nền cũ. Kiến trúc của chùa hiện tại đáng quý nhất là 4 tháp mộ cổ được phục dựng trước cổng. Theo lời sư thầy Thích Thanh Toàn thì cạnh chùa có tới 7 ngôi mộ cổ chứ không chỉ là 4. Mộ cổ được dựng lại cao chừng 6m. Tầng trên theo dạng tháp cổ, phần phía dưới là mộ phần. "Phục dựng lại chùa không chỉ là phần kiến trúc mà còn phải phục dựng lại cả phần lịch sử đã mất. Nhiều tài liệu của cả Phật giáo và lịch sử đều cho rằng chùa Địa Ngục là nơi phát tích của Phật giáo Việt Nam từ thời Hùng Vương"- sư thầy Thích Thanh Toàn nói.


 Mộ tháp tại chùa Địa Ngục được phục dựng. Ảnh: M.Phương

Sư thầy Thích Thanh Toàn trích dẫn: Chùa Địa Ngục không rõ xây từ thời nào, nhưng theo cuốn Kiến Văn Tiểu lục của Lê Quý Đôn mô tả là một khối kiến trúc vuông vức, mỗi cạnh dài khoảng một trượng, các tường bao quanh chùa đều bằng đá. Thường ngày hai cánh cửa ra vào khóa kỹ bằng một khóa sắt lớn và trong khuôn viên có đặt viên đá ghi rõ: Địa Ngục tự (tức chùa Địa Ngục). Tuy nhiên, điều này không đủ chứng minh Địa Ngục tự là nơi phát sinh Phật Giáo Việt Nam. Nhưng những cứ liệu lịch sử của trong bài Phật giáo thời Hùng Vương, GS - Thiền sư Lê Mạnh Thát lại cho rằng điều này có thể chứng minh được. "Ta may mắn có một tài liệu là Lĩnh Nam Trích Quái. Truyện Nhất Dạ Trạch của Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại việc Chử Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc) truyền dạy giáo lý Phật giáo" .

GS Lê Mạnh Thát cũng chứng minh Quỳnh Viên là một trong những địa danh tại Tây Thiên mà Phật giáo truyền vào nước ta từ thời Hùng Vương (tương đương với thời đại ASOKA- A Dục vương, một vị vua Ấn Độ). Cùng quan điểm với sư thầy Thích Thanh Toàn, tác giả Thích Kiến Nguyệt trong tài liệu "Tây Thiên - Chiếc nôi của Phật Giáo Việt Nam" đã khẳng định: "Tây Thiên phát xuất từ ý nghĩa nơi các nhà sư "Tây Thiên" từ Ấn Độ đến tu hành. Vì theo trong kinh từ Tây Thiên chỉ cho nước Ấn Độ, cũng như từ Đông Độ chỉ cho nước Trung Hoa. Tác giả Thích Kiến Nguyệt cũng cho rằng: chùa Địa Ngục là một trong những chùa cổ nhất của thiền phái Tây Thiên tại Việt Nam.
nguồn: Báo Đất Việt